ĐẠI ĐẠO VÀ TÔN GIÁO
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Các người theo Đạo thường lẫn lộn Đại Đạo
và Tôn Giáo, nhưng các bậc hiền minh, thánh triết thì thấy Tôn Giáo và
Đại Đạo hết sức khác nhau.
Lecomte Du Noüy chủ trương Chân Đạo phát
xuất từ một nguồn, sau biến thiên thành nhiều tôn giáo. Ngày nay các tôn
giáo phải cố sao tìm lại tương đồng nguyên thủy ấy.
Trong bài tựa cuốn «Kim Liên Chính Tông»
của Đạo Lão, ta thấy có quan niệm tương tự:
«Đạo không đầu cuối,
Giáo có trước sau.»
Hỏi: «Vậy Đạo và Giáo khác nhau sao?»
Thưa: «Khác.»
«Đạo thời chân thường siêu việt; giáo thời
dạy cách độ người. Đạo là Bản Thể qua muôn ngàn đời không hề biến dịch;
giáo là công dụng có lúc thịnh, có lúc suy.»
Cao Hoàng luận về Tam Giáo có viết: «Thiên
Hạ vô nhị Đạo, Thánh Nhân vô nhị Tâm.»
Thẳng thắn mà xét thì vấn đề «chính đạo
tại tâm» là một quan niệm mà chỉ có một số ít chính nhân, quân tử, hiền
thánh mọi nơi mọi đời chấp nhận.
Nó đòi hỏi một sự suy xét sâu xa, một tâm
hồn tế nhị có thể thâu nhận được những ý niệm từ đáy lòng hiện lên tâm
thức. Đó là công việc mà những người tầm thường không làm nổi.
Mục Đích
của Đại Đạo:
Dạy con người thực hiện Thiên Tính.
Dạy con người Tiến Hóa, tiến tới Toàn
Thiện. (Trung Dung, Đại Học)
Mở rộng tầm mắt bao quát vạn vật và không
gian thời gian, ta thấy vũ trụ như có hai chiều hướng biến dịch, tiến
hóa.
Một chiều tiến hóa theo các định luật vật
chất ngày một tiến tới bất động ù lì, tối tăm, lạnh lẽo, hỗn loạn.
Một chiều tiến hóa theo các định luật tinh
thần ngày một tiến tới tinh vi, kỳ ảo, linh động sáng tươi, đẹp đẽ, trật
tự, hòa hợp. Và khi tinh thần tiến tới chỗ tinh hoa, tuyệt diệu, thì vật
chất sẽ tiến tới chỗ hỗn loạn và triệt tiêu.
Ta cũng thấy song song với các đạo giáo và
triết thuyết hiện hành còn có một thứ triết thuyết và đạo giáo của các
nhà huyền học tứ phương.
Về triết lý các nhà huyền học chủ trương
con người gồm đủ Tam Tài Thiên Địa Nhân.
Nghĩa là con người gồm có:
Xác (Địa)
Tâm (Nhân)
Thần (Thiên)
Đó là quan niệm Tam Tài mà chính Thánh
Kinh cũng đã nhiều lần đề cập. (1 Thessaloniciens, 5, 23; Mat. 22, 37)
Suy rộng ra, thì con người có ba bổn phận:
– Vật đạo: Lo cho xác thân được
khang kiện, chế ngự được ngoại cảnh.
– Nhân Đạo:
Lo cho tâm hồn được
khinh khoát, thoát vòng kiềm tỏa của dục tình, ăn ở xứng đáng với danh
nghĩa con người, tiếp nhân xử kỷ cho phải phép.
– Thiên đạo: Vươn lên tới bình diện
tâm linh, sống phối hợp cùng Thượng Đế, bỏ lốt phàm tâm, thể hiện «Thiên
Tâm». Đó là giai đoạn «tâm tử, thần hoạt» của Lão Giáo, hay «Tận nhân
dục tắc Thiên lý hiện» của Nho gia.
Như vậy, con người sinh ra chưa phải là
con người thực, còn phải tốn công mài giũa, tu luyện lâu lai mới thành
người; từ con người, đến địa vị thần thánh, cũng thực là nhiêu khê, vất
vả. Sinh ra là phàm nhân, con người phải dùng đời mình để cố gắng trở
nên những con người xứng đáng, trở nên hiền thánh. Như vậy thì càng về
chiều, càng về già, thời gian càng trở nên quí báu, quan trọng. Và con
người không bao giờ được ngừng nghỉ, mà phải tiến bước mãi để đạt đích
hoàn thiện. Con người chỉ trở nên bất tử, khi thực hiện được Thiên Tâm.
Các hình thức bên ngoài, các giáo lý mới
đầu, rất cần thiết vì nó hỗ trợ con người trong công trình đi tìm chân
lý, nhưng khi đã nhìn thấy con đường nội tâm, và đã biết những phương
pháp suy tư, định tâm, định trí bên trong, thì tất cả các phương thức
bên ngoài trở thành tùy thuộc. Tất cả các phương thức chỉ có giá trị ở
chỗ giúp đỡ con người tìm ra được Chân Thần, sống cao siêu, phối hợp
được cùng Thượng Đế ngay từ khi còn ở gian trần này. Khi đã đạt đích,
thì mọi sự không còn cần yếu nữa.
Con người cần phải chứng nghiệm được những
giai đoạn mình đã băng qua, những kết quả đã thâu lượm được, ngay từ khi
còn ở trần hoàn; cho nên mới đầu thì phải nhờ người hướng dẫn, sau dần
đà phải tự mình điều khiển, lèo lái lấy cuộc đời mình, theo đúng đường
lối, gương tích các bậc thánh hiền tiền bối.
Định mạng con người cũng như định mạng
nhân quần rất là sang cả, rất là cao siêu. Nó chỉ có một, đó là Hoạt
động theo Trời, sống phối kết với Trời. Nho gia xưa gọi thế là Dữ Thiên
đồng đức, hay Thiên Nhân hợp phát.
Công Giáo nói: «Hãy trở nên hoàn thiện như
Cha ta ở trên Trời.» (Mat. 5, 48.)
Trung Dung (chương 20) cũng viết:
«Hoàn Toàn là Đạo của Trời
Trở nên hoàn thiện, đạo Trời xưa nay.»
(Thành giả Thiên chi Đạo dã, Thành chi giả
Nhân chi Đạo dã. 誠 者 天 之 道 也 誠 之 者 人 之 道 也 )
Đại Học (chương 1) viết «Chỉ ư Chí
Thiện» 止 於 至 善 (Dừng
chân nơi Chí Thiện)
Tóm lại, tiến sâu vào đáy lòng, cố dẹp bỏ
thú tính, cố sống cho cao siêu, khinh khoát, để thể hiện nơi ta một tâm
hồn siêu đẳng. Đó là chốt then của sự Tiến Hóa để tiến tới vinh quang,
tới Định Mệnh sang cả của con người, theo đúng Thiên Ý.
Những Danh
Từ dùng để chỉ Đại Đạo
Người xưa dùng chữ Phối Thiên (Trung Dung,
chương 26, 31; Đạo Đức Kinh, chương 68), Nirvana (Bà La Môn, Phật).
Giám mục Nathan Soderblom, trong quyển La
Vie future d’après le Mazdéisme, chủ trương rằng Niết Bàn là một từ ngữ
Phật giáo đã vay mượn nơi Ấn Giáo: Nó tương đương với trạng thái huyền
đồng, hay đời sống phối kết với Thượng Đế trong Ấn Giáo. Trong Ấn Giáo,
Nirvana nhiều khi đi đôi với chữ Brahma... (Sđd. tr. 363)
Đạo Huyền Đồng
(Mysticism) và thuyết Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể
Đạo Huyền đồng là sống một đời đạo giáo
kết hợp với Trời ngay từ khi còn ở gian trần này.
Al-Ghazali phê bình: «Khi nhà huyền học
sống phối kết với Một, thì đã đi tới giai đoạn tiến hóa chót của con
người. Con người không thể nào đi xa hơn thế được, vì đã đi đến Một là
không còn Vạn, không còn gì bác tạp nữa.»
Jalalu'd Din có thơ:
Hồn ta, hồn Chúa tuy hai,
Như nước và rượu, hòa hài với nhau.
Chúa, Ta ý hiệp, tâm đầu,
Nước kia, rượu nọ, ai hầu phân ra?
Ngài nay đã trở thành ta,
Ta nay đã thoát cõi bờ nhỏ nhoi!
Ngài nay đã chiếm ta rồi,
Còn ta cũng đã thành Ngài còn đâu?
Đạo Huyền Đồng chủ trương Thượng đế là Bản
Thể con người, là cốt lõi con người, và luôn luôn tiềm ẩn trong lòng con
người (God is immanent in man). Plotinus nói: «Thượng đế không ở ngoài
con người, nhưng ở ngay trong lòng vạn hữu. Chỉ tại ta ngu dốt không
biết điều đó mà thôi.»
Eckhart cũng nói: «Thượng đế gần tôi hơn
chính tôi, Ngài cũng gần gỗ đá như vậy, nhưng chúng không biết điều đó.»
Mục tiêu của Đạo huyền đồng: Trở về với
Nhất thể.
Một người theo đạo huyền đồng chân chính
phải biết rằng muôn vật sinh xuất ra từ Một, và có hiểu rõ lẽ sinh hóa
từ Một mới là người theo đạo huyền đồng. (Mysticism).
Eckhart cho rằng: Cái mà con người nhìn
thấy thù tạp, phân hóa bên ngoài, thật ra là Một mà thôi. Ở đây, một
ngọn cỏ, một tấm gỗ, một phiến đá thật ra cũng là một.
Tennyson viết:
«Little flower - but if I could understand
What you are, root and all, and all in
all.
I shoud know what God and man is.»
Dịch:
Bông hoa bé nhỏ con con,
Nếu tôi hiểu được nguồn cơn, gót đầu.
Nếu tôi hiểu nó cho sâu,
Trời, Người bao chuyện nhiệm màu, cũng
thông.
Phật Giáo cũng chủ trương Vạn loài đồng
thể. Trong quyển Zen and Japanese Culture, nơi tr. 352, Daisetz
T. Suzuki trích lời thư Tăng Triệu như sau:
«Heaven and earth and I are of the same
root,
The ten thousand things and I are of one
substance.»
Đó chính là Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất
Thể.
Biết được, theo được đạo huyền đồng là cái
duyên mà trời đất ban cho những người có căn cơ, gốc gác, cho những
người biết lập quyết tâm đi tìm Đạo, tìm Trời. Người xưa nói: Tinh thành
sở chí, kim thạch vi khai, Ai mà có lòng thành tín, thì vàng đá sẽ mở
lòng ra.
Không biết rằng mình phát xuất ra từ một,
không biết rằng muôn loài là một, là chính mình, thì không bao giờ vào
được đạo huyền Đồng.
Lã Động Tân viết:
Ta có một vật báu,
Giá chẳng đáng đồng tiền.
Nếu ai mà hỏi giá,
Muôn vạn lạng hoàng kim.
Đạo tặc chẳng cướp được,
Hỏa thiêu cũng y nhiên.
Ở đời không kẻ biết,
Chí thân cũng không truyền.
Ta từ Vân Động đến,
Tới nay quá thiên niên.
Hận là không kẻ biết,
Trong mình vẫn giữ nguyên.
Nó chẳng đứt, chẳng liền,
Tung ra trùm trời đất,
Thu nhỏ lọt đầu kim.
Nếu ai mà biết được,
Tu đạo, sẽ thành tiên.
Bạn hãy kiếm điểm lại,
Có chăng tại thân biên!
Bài này là một bài kệ của Lã Động Tân.
Một hôm, vào khoảng năm 1976, tôi và nhà
tôi xuống thăm chùa Đạo Lão là Chùa Khánh Vân, ở đường Lò Siêu, Chợ Lớn,
tôi thấy trụ trì đem dưng bài kệ trên cho thiên hạ đọc. Tôi ghi chép
lại, và đem về dịch ra tiếng Việt, và cũng đem biếu vị trụ trì một bản.
Bài này, sang Mỹ rồi, nhà tôi mới đem ghi
chép lại. Có thể là thiếu đi ít câu, nhưng đại ý chỉ có vậy.
Thực ra, Trời là cốt lõi muôn loài, và là
chiều sâu con người, nhưng con người đâu có biết có hay. Họ chạy đi tìm
những đạo mới lạ, chỉ duy là đã có sẵn đạo cao siêu nhất ở ngay trong
mình, thì lại bỏ qua luôn, không thèm để ý tới. Thế chính là Bụt chùa
nhà không thiêng. Thế là có của báu trong nhà mà vẫn phải ngửa tay đi ăn
xin người.
Một hôm, tôi sang Paris, lên tháp Eiffel
ngắm cảnh. Tôi thấy trăng sao, trời mây ở Paris, là trăng sao, tôi vốn
có từ Việt Nam. Tôi nhớ lại đồ ăn, thức uống ở Paris, tôi cũng thấy có ê
hề ở Việt Nam. Nghĩa là cái gì cần cho con người như đồ ăn, thức uống,
như không khí, thì Trời đã cho tôi có đủ ở Việt Nam. Như vậy, nếu có cái
Đạo cần cho con người, thì tôi phải mang nó sẵn trong tôi, chứ nó không
thể là cái đạo nhập cảng. Phật nói Ngài là ngón tay chỉ trăng, chứ Ngài
không phải là trăng. Đạo Nho nói: Đạo quân tử, phát xuất tự thâm tâm (Cố
quân tử chi đạo, bổn chi ư Thân. Trung Dung chương 29). Chính vì vậy mà
tôi đã dành nửa đời người để đi tìm cho ra cái đạo tự nhiên, vĩnh cửu mà
trời đất đã ban cho tôi từ khi ra đời. Khi còn trẻ, tôi đã đi theo đạo
này, đạo nọ, nhưng những gì họ rao giảng, mà không hợp tình, hợp lý,
không hợp với tự nhiên, với Thiên Lý, với những định luật vĩnh cửu của
trời đất là tự nhiên nó truội đi, như nước đổ đầu vịt.
Thánh hiền các đạo giáo đều dạy lẽ Qui
Nguyên Phản Bản. Lão tử viết:
Muôn loài sinh hóa đa đoan,
Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên.
Hoàn bản nguyên an nhiên phục mệnh,
Phục mệnh rồi trường vĩnh vô cùng.
(Xem bài Qui Căn, chương XVI, Đạo đức
Kinh)
Các đạo giáo Á đông đều dạy «qui căn phản
bản», hay «qui nguyên, phục thủy».
Bà La Môn dạy ta:
Tiến từ Hư Vọng, tới Chân Thực.
Từ tối tăm đến Ánh sáng.
Từ Tử Vong đến Bất tử. (Brih. 1.3.28).
Đạo Phật dạy bốn chữ
Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh: Tiến tới Thường Hằng, Hạnh Phúc, Đại Ngã (Phật tính, Chân Tâm),
Thanh Tịnh.
Đạo Nho dạy: Khử nhân dục (Vọng Tâm), Tồn
Thiên Lý (Chân Tâm) và hễ Nhân Dục thắng, thì Thiên Lý vong, Và phải
sống sao cho lòng được Quang, Minh, Chính Đại.
Như vậy, giác ngộ là tìm ra được Chân Tâm,
Chân Ngã khuất lấp sau bức màn vô minh và hiện tượng.
Tóm lại, Thuyết Thiên địa vạn vật đồng
nhất thể sẽ trở thành một học thuyết đạo giáo hết sức cao siêu, nếu ta
thay chữ Bản Thể bằng những danh từ như Thượng đế, Allah, Chân Như, Đạo
v.v...
Tuy nhiên, nó hết sức khác với tôn chỉ của
các đạo giáo công truyền, vì nó chủ trương:
* Con người có Thiên Tính.
* Thượng Đế ngự trong lòng sâu vạn hữu.
* Mọi người đều có một giá trị siêu việt,
đều có sẵn nơi mình những khả năng vô biên, vô tận, đều có thể tiến hóa
vô biên vô tận.
* Mọi người phải tương ái, tương thân, vì
đều có cùng một Bản Thể.
* Mọi người phải đem tình yêu ban rải tới
chúng sinh, vì chúng sinh có đồng một bản thể như mình.
* Phải đi vào Tâm mà tìm Đạo, tìm Trời.
* Làm chính trị, hay lãnh đạo dân là phải
lo cho dân ấm no, sung sướng,
* Lãnh đạo nhân quần là phải hướng dẫn
nhân quần tới Chân, Thiện, Mỹ.
* Phải biết đoàn kết để giải quyết mọi nỗi
dở dang, chếch mác còn có trên đời này.
* Mục đích của đời sống là sống cao khiết,
kết hợp nhất như với Thượng đế ngay từ khi còn ở gian trần này.
* Khi còn ngây thơ, thì trông vào tha lực,
khi đã trưởng thành, đã giác ngộ, thì trông vào tự lực.
*Lương tâm là Thiên Thư duy nhất, không
nhiễm mầu thời gian và không gian: Không ai có thể manh tâm sửa đổi
được.
Nếu quả thật con người sinh ra ở cõi đời
này là cốt để thực hiện cái Bản Thể cao đại của mình, thực hiện một cuộc
sống cá nhân và xã hội lý tưởng, thì chúng ta mới tìm ra được một lẽ
sống đích thực cho cá nhân và cho nhân loại. Nếu quả thật chúng ta sống
ở đời cốt là để thực hiện một cuộc sống lý tưởng cho mình và cho người,
ta sẽ tìm ra ngay những thiếu sót mà mỗi người chúng ta, mỗi quốc gia,
xã hội đang còn mắc phải.
Chúng ta còn đói khổ? còn bệnh tật? còn
lầm than? chúng ta còn ngu si, dốt nát? chúng ta còn đầy sân hận? chúng
ta còn bị dục vọng dày vò? Hoặc xã hội chúng ta còn đang lạc hậu, đang
bị bóc lột, đang bị cùm xiềng?
Khi đã tìm ra căn bệnh rồi, tìm ra thuốc
chữa không còn phải là khó. Cái khó là chính vì chúng ta không chịu suy
tư, không chịu vươn vượt, không chịu đoàn kết để mà xây dựng tương lai.
Nếu chúng ta không cùng nhau ra tay tìm ra nguyên nhân mọi chếch mác dở
dang, mọi khổ đau của nhân quần, nếu chúng ta không chịu sửa sai, sửa
lỗi, thì không bao giờ chúng ta có một cuộc sống tiến bộ, đáng sống.
Tin vào sức mạnh mình, tin vào những khả
năng vô biên tận của con người, tin vào sức mạnh vô biên của sự đoàn
kết, của sự tương kính, tương thân, con người sẽ tạo cho mình một đời
sống cực lạc, hạnh phúc - cho mình và cho mọi người- Đó là định mệnh con
người trong tương lai, mai hậu.
Và tôi liên tưởng đến bài thơ Plein Ciel
của Victor Hugo:
Thuyền Nhân loại hướng về đâu tá?
Thuyền quang hoa băng ngả thần tiên.
Tiến về mai hậu siêu nhiên,
Tiến về đức hạnh nguyên tuyền tinh hoa.
Ánh khoa học Trời xa lóng lánh,
Thuyền quang hoa băng cảnh thần tiên,
Tiến về đẹp đẽ tinh tuyền,
Tiến về Thượng giới, về miền muôn sao.
Hiện đại dùng chữ: Realization of God,
Atonement, Self-Realization, Mysticism. Đạo Huyền Đồng (Thiên Nhân Hợp
Phát), Vô Vi, Non-dualism, Advaita, Non-duality.
Realization of God là Thực Hiện Thượng Đế;
Atonement = At one ment là Đắc Nhất; Self-Realization là Thực Hiện Đại
Ngã
Ramakrishna viết: «Uổng thay, con người đã
được cái may mắn làm người, mà không thực hiện được Thượng Đế trong kiếp
này.» (L’Enseignement de Ramakrishna, p, 5.)
Triết học của Đại đạo: Thuyết Thiên Địa
Vạn Vật nhất thể, hay Thuyết Phóng Phát tán phân (Emanation and Division
Theory)
Đại Đạo tiến hóa có chu kỳ: Vạn Vật tuần
hoàn chung nhi phục thủy. Nhất tán vạn, Vạn Qui Nhất; Thủy Chung như
nhất.
Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể chủ
trương rằng Vũ trụ này là từ một Bản Thể Duy Nhất sinh xuất ra. Còn đạo
Huyền Đồng chủ trương vạn sự trong trời đất này chung qui sẽ phải trở về
với Bản Thể đó. Một đàng thì đi ra, một đàng thì đi vô. Hai chiều ráp
lại thành vòng Đại Tuần Hoàn của vũ trụ.
Thuyết Thiên địa vạn vật nhất thể là chiều
sinh Nhân, sinh Vật, còn Đạo Huyền Đồng là chiều sinh Thánh, sinh Thần.
Chiều đi ra là chiều xuôi, chiều đi về là chiều ngược. Kinh Dịch chung
qui là dạy con người Chiều Ngược này, vì thế nói: Dịch, nghịch số dã.
Từ Vô Cực, Thái cực xuống tới âm Dương,
sinh hóa vạn vật, đó là chiều thuận. Đó là chiều từ Thái cực ra đến 64
quẻ của Phục Hi. Đạo gia gọi thế là Giáng Bản Lưu Mạt.
Từ vạn vật, trở ngược về Bản Thể, hay nói
cách khác, từ 64 quẻ trở về tứ tượng, Âm Dương, Thái cực, gọi là chiều
nghịch. Đạo gia gọi thế là từ ngọn trở về gốc, (Tự mạt phản bản). Như
vậy, chiều thuận sẽ sinh nhân, sinh vật, chiều nghịch sẽ sinh Thánh,
sinh Thần.
Hay nói cho đúng hơn, chiều Thuận là đi từ
Thái Cực, đến Âm Dương, Tứ Tượng đến 32 quẻ âm phía trái, tức là từ Cấu,
đến Khôn. Còn chiều Nghịch là chiều đi từ quẻ Phục, đến Kiền rồi trở về
Thái Cực.
Chính vì thế mà nơi quẻ Phục có câu: «Phục
kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ?» Con người biết đàng trở về là khi thấy
được trong lòng mình có Thiên Địa chi tâm.
Con người thường đi theo chiều Thuận từ bé
đến khoảng 35 tuổi. Rồi từ 36 đến già sẽ đi theo chiều nghịch, nếu có
duyên may, hiểu đạo.
Con đường trở về Nho gia gọi là Phản Cung,
hay Phản Thân, tức là quay lưng lại với thế giới vật chất, và hướng về
thế giới tinh thần, về Thái Cực, Vô Cực.
Âu Châu gọi «hướng ngoại trục vật» là
Extroversion. Gọi «hướng nội hồi Thiên» là Introversion. Gọi «phản quan»
hay «nội quan» là Introspection.
Phật giáo gọi Chiều Nghịch là «Nội quan»
hay «Nội quan quán chiếu».
Nhìn sang phía Trời Âu, ta thấy nhiều
triết gia cũng đã đề cập đến hai chiều Thuận Nghịch của cuộc tiến hóa.
Hegel mô tả đại khái như sau: Tinh Thần
thoạt kỳ thủy xuất phát để phá tán vào vạn vật, rồi qua nhiều thời kỳ
văn minh, nhiều chặng đường lịch sử vất vả, lại phục hồi được chân thể,
về được với Thượng đế.
Các triết gia Alexandrin và Thomist cũng
chủ trương một vòng tuần hoàn từ Thượng Đế xuống, rồi dần dần quay lại.
Denis Areopagites một triết gia và một nhà
huyền học Âu Châu thế kỷ thứ 5 Công Nguyên cũng chủ trương vũ trụ vận
chuyển theo hai chiều: chiều sinh hóa từ Thượng đế phát ra, và chiều
phản bản qui nguyên, trở về với Thượng Đế.

Gần đây, Claude Tresmontant cũng viết: «Có
một vấn đề siêu hình thường ám ảnh tư tưởng Âu Châu: Đó là sơ đồ một
vòng tuần hoàn từ Nhất sa đọa xuống Vạn, rồi từ Vạn lại phản hoàn về
Nhất.»
Hai chiều Thuận, Nghịch của vũ trụ cũng
dần dà được các khoa học gia xác định.
Chiều Thuận tức là chiều Dương tiêu, âm
trưởng đã được Carnot Clausius chứng minh. Quan niệm này được gọi là
Nguyên Lý thứ hai của Nhiệt Động Học, hay nguyên lý Carnot-Clausius.
Nguyên lý này đại khái như sau:
a. Năng lực trong vũ trụ có một số lượng
nhất định.
b. Năng lực có thể phân tách thành hoạt
lực, và tiềm lực.
c. Khi tác dụng hoạt lực sẽ tiêu hao, suy
giảm dần và không thể phục hồi nguyên trạng.
d. Rốt cuộc, hoạt lực sẽ tiêu hao dần và
có một lúc sẽ triệt tiêu.
e. Khi ấy, tiềm lực sẽ tăng lên đến mức
tối đa (Maximal Entropy), nhưng vô dụng, và thế giới sẽ tận số trong im
lìm, lạnh lẽo.
Mới đầu các khoa học gia tưởng thế giới
chỉ chuyển động theo một chiều nói trên. Dần dà, các nhà sinh lý học
(biologist) và các nhà sáng tạo các máy móc tự động (Cybernetician) đã
nhận thấy rằng Nguyên Lý Carnot-Clausius chỉ áp dụng cho vật chất vô
tri, chứ không áp dụng cho sinh vật, nhất là cho con người.
Trong con người rõ ràng có hai chiều biến
chuyển:
– Tiêu (Catabolism): Chiều thuận.
– Tức (Anabolism): Chiều nghịch.
«Đi theo chiều thuận, trong thì bị thất
tình, lục dục làm mê muội, ngoài thì bị trăm điều, nghìn việc quấy đảo
tâm thần, lấy giả làm chân, lấy tà làm chính, lấy khổ làm vui, cứ bị lôi
cuốn theo dục vọng, cho đến khi tiêu hao hết tinh thần.
«Người đại trí, đại tuệ đi theo chiều
nghịch sẽ thoát vòng kiềm tỏa của các định luật tạo hóa, sẽ không còn bị
âm dương nung nấu, không còn bị vạn vật lôi cuốn, dùng đời để tu đạo,
lấy nhân đạo để chu toàn Thiên Đạo.
«Nghịch đây là trở về với Tuyệt đối Thể y
như một kẻ bỏ nhà ra đi thật xa xôi, nay trở lại nhà. Tuy gọi là «Nghịch
Hành», nhưng thực là đi theo đúng lẽ Trời, đó là «cái đại thuận» trong
cái nghịch. Nghịch đây bất quá là đi ngược với đường lối của thế nhân
thông thường.»
Dịch kinh trọng chiều nghịch và dạy người
quân tử đi theo chiều nghịch, vì thế gọi Dịch là Nghịch Số.
Lão tử trọng chiều nghịch, vì thế mới nói
«Phản giả đạo chi động». (Đạo Đức Kinh, chương XL)
Các đạo gia cũng hết sức trọng chiều
nghịch.
Các ngài chủ trương cần phải băng qua hào
quải (Hoàn cảnh) trở về Thái Cực, băng qua hiện tượng trở về Tuyệt đối.
Các ngài chủ trương muôn loài rồi ra cũng trở về với Tuyệt đối.
Các Ngài chủ trương muôn loài rồi ra cũng
trở về với Thái Cực.
Ngộ Chân trực chỉ có thơ:
Vạn vật vân vân các phản côn,
Phản côn, phục mệnh tức trường tồn.
返
根
復
命
即
常
存
Tri thường, phản bản, nhân nan hội,
知
常
返
本
人
難
會
Vọng tác chiêu hung vãng vãng văn.
妄
作
招
凶
往
往
聞
Dịch:
Vạn vật rồi ra cũng phản côn,
Phản côn, phục mệnh sẽ trường tồn.
Tri thường, phản bản người đâu rõ,
Nên mới chiêu hung, sống mỏi mòn.
Lưu Nhất Minh có thơ:
Huyền quan nhất khiếu thiểu nhân tri,
玄 關 一 竅 少 人 知
Hoảng hốt yểu minh hàm lưỡng nghi.
恍 惚 杳 冥 含
兩 儀
Thuận khứ qui lưu phiền não lộ,
順 去 歸 流 煩
惱 路
Nghịch lai tiện thị thánh hiền ki.
逆 來 便 是 聖
賢 基
Dịch:
Huyền quan một khiếu, ít người tri,
Phảng phất mơ màng đủ lưỡng nghi.
Đưa đẩy xuôi dòng vương khổ não,
Ngược chiều, hiền thánh tạo căn ki.
Trên đây đã:
1. Minh xác hai chiều thuận nghịch, cùng ý
nghĩa và mục địch của hai chiều thuận nghịch.
2. Đề cao Chiều Nghịch và nhận chân Chiều
Nghịch là chiều sinh tiên, sinh thánh, sinh thần.
Tuy nhiên con người sinh ra đời không phải
lúc nào cũng theo được chiều nghịch, mà cũng có lúc phải theo chiều
thuận.
Theo thiển ý tôi, một cuộc sống lý tưởng
nhất của con người sẽ gồm cả hai chiều thuận nghịch.
Lúc tuổi trẻ (1–35 tuổi), theo chiều
Thuận, chiều Hướng Ngoại, từ tinh thần tiến ra vật chất, ra ngoại cảnh,
ra xã hội để mưu sinh, cải tạo hoàn cảnh, góp phần xây dựng giang sơn,
đất nước. Nửa đời sau (36–80, 90 tuổi), khi đã công thành, danh toại, sẽ
đi chiều nghịch, từ vật chất ngoại cảnh, tiến sâu về phía tâm linh, để
thần thánh hóa bản thân, phối hợp với Thái Cực.
Sách Đạo Nguyên Tinh Vi Ca cho rằng:
Trước xuống, sau lên hợp tự nhiên.
Như vậy, là biết hồi hướng phải thời, đúng
lúc, theo đúng nhẽ tuần hoàn, vãng lai, phản phúc của Dịch Kinh, và của
trời đất.
Lúc trở vào nội tâm, lúc đi theo Chiều
Nghịch, thì mọi sự đều nghịch đảo hết:
Cái gì xưa kia cho là quan trọng, nay trở
thành tầm thường; cái gì xưa cho là tầm thường nay trở nên quan trọng.
Lúc ấy, Con người thực tế (le moi
empirique; The empirical self) nhường bước cho con người lý tưởng (le
moi Idéal; The ideal self).
Thượng đế ngoại tại (God without), sẽ trở
thành Thượng đế nội tại (God within).
Thượng đế xưa kia xa cách, nay trở thành
thân mật, gần kề.
Người ngoài trông vào, tưởng ta bỏ thực,
cầu hư.
Ngược lại, ta biết chắc mình đã bỏ hư, cầu
thực.
Đi theo chiều thuận, hướng ngoại, hoạt
động bên ngoài là đi theo đời, «đi đời».
Đi theo chiều nghịch, hướng nội, sống một
đời sống tinh thần súc tích bên trong, là đi theo đạo, «đi đạo».
Bổn Phận con người:
Thực Hiện Tính Trời.
Trở nên Hoàn Thiện
Các nhà huyền học xưa nay đều chủ trương:
Trời Đất, vạn vật chẳng qua là thiên hình, vạn trạng của một Thực Thể
duy nhất, của Tuyệt Đối Thể.
Tuyệt Đối Thể này là hiện thân của Thượng
Đế siêu việt, bất khả tư nghị.
Tuyệt đối Thể này mỗi nơi kêu bằng một
danh hiệu, hoặc là Đạo, là Chân Tâm, là Thái Cực, là Logos. Tuyệt Đối
Thể này là một Thực Thể duy nhất bao quát cả hai phương diện Tinh Thần
và Vật Chất.
L.M. Teilhard de Chardin gọi Tuyệt Đối Thể
này là Nguyên Thể Vũ Trụ. Nguyên Thể này có 2 phương diện Vật Chất và
Tinh Thần y như chủ trương của Dịch Kinh: Thái Cực sinh Âm Dương. Nhất
thể ấy sinh xuất ra quần sinh, quần sinh lại tiến hóa qui hướng về Nhất
Thể,
Nhất tiến ra Vạn, rồi Vạn lại qui về Nhất,
theo nhịp điệu thời gian. Cho nên trong Trời
Đất đâu đâu cũng tràn đầy lẽ biến dịch.
Biến dịch theo hai chiều, hai hướng: hoặc là phân tán đào thải, hoặc là
kết tụ, súc tích để tiến tới tinh hoa, trở về Nguyên Bản. Như vậy dưới
những lớp lang biến thiên của vũ trụ, dưới những hình thức biến thiên
của Tâm Hồn, còn có một thực thể viên mãn, hằng cửu, viên mãn, bất diệt.
Mọi công cuộc giáo hóa, tu trì là cốt chỉ
vẽ cho con người nhìn nhận cho ra được Bản Thể tuyệt đối, bất diệt và
hằng cửu ấy.
– Muốn tìm Tuyệt Đối hằng cửu, bất diệt
phải trở về đáy lòng.
– Muốn tìm Bồ Đề, Niết Bàn phải tìm nơi
tâm khảm: Đó là Chủ Trương của Thiền Tông
– Chu Hi và Nho gia chủ trương:
«Quay về ta mà tìm Đạo ấy,
Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.»
(Trung
Dung, chương 1, chú thích của Chu Hi)
Theo các nhà huyền học Á Đông thì vũ trụ
và vạn vật thảy đều biến hóa không ngừng.
Cho nên con người cũng phải luôn biết biến
hóa hoàn cảnh để cho đời sống vật chất thêm đẹp tươi.
Biến hóa tâm tư, cải thiện đồng loại, để
xã hội ngày thêm công bình, hòa hiệp.
Biến hóa tâm thần để trở thành Tiên Phật
Thánh: Phối Thiên, Phối Mệnh kết hợp cùng Thượng Đế.
Tuyệt Đối Thể vừa là Căn Nguyên vừa là
cùng đích muôn loài, cho nên muôn loài phải tiến hóa để tiến dần về Cực
Điểm Tinh Hoa ấy.
Lão Tử viết:
«Muôn loài sinh hóa đa đoan,
Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên.
Hoàn Bản Nguyên an nhiên phục Mệnh,
Phục Mệnh rồi trường vĩnh vô cùng.
(Đạo
Đức Kinh, chương XVI)
Tất cả lẽ Dịch là «Nhất tán vạn, Vạn qui
Nhất», phản phúc, vãng lai, từ Thái Cực phát xuất ra Vạn Hữu, rồi từ Vạn
Hữu lại tiến hóa Biến Thiên để trở về Thái Cực. Thế là «Thiên Địa tuần
hoàn chung nhi phục thủy». Thế là «Thủy Chung như Nhất».
Thủy hay Chung vẫn chỉ là một Thái Cực,
khác nhau nguytên ở hai thế Ẩn và Hiện, Ẩn lúc ban sơ, Hiện lúc Chung
Cuộc. Giữa Thủy và Chung là lịch trình biến thiên tiến hóa của Vũ Trụ
theo lẽ Vãng Lai, phản phúc, tuần hoàn.
Vạn sự từ trung tâm phát xuất, trước sau
cũng phải trở về Trung Tâm.
Trở về được Trung Tâm là Hoàn Nguyên, Phản
Bản, thành Thánh Thần Tiên Phật, bỏ được Phàm Tâm, bước lên được bình
diện Thiên Tâm, bỏ được Tiểu Tri, Tiểu Kiến, trở thành những bậc Đại
Giác, Đại Ngộ.

Các sách viết
về Đại Đạo:
Nguyễn Văn Thọ, Vạn Vật Đồng Nhất Thể
Everlyn Underhill, Mysticism
F. C. Happold, Mysticism
David R. Hawkins, The Eye of the I
The Collected Works of Ken Weber
Neale Donald
Walsch, Conversations with God
Sri Nisargadatta Maharaj, I am That
David Steindl-Rast, Meister Eckhat, from whom God hid Nothing, O.S.B.
Lecomte Du Noüy, La Dignité humaine, p. 143.
Nguyễn
Văn Thọ, Trung Dung Tân Khảo, tr. 380.
Hal
Bridges, Mysticism, A meridian Book, p. 426:
With Thy Sweet Soul, this soul
of mine,
Had mixed as Water doth with Wine,
Who can the Wine and Water part,
Or me and Thee when we combine?
Thou art become my greater Self,
Small bounds no more can me confine.
Thou hast my being taken on,
And shall not I now take on thine?
God, says Plotinus, is not external to anyone, but is present with
all things, though they are ignorant that He is so.
–
Mysticism, Everlyn Underhill. p. 99.
God,
says Eckhart, is nearer to me than I am to myself: He is just as
near to wood and stone, but they do not know it. Mysticism, p. 101.
All that a man has here externally in multiplicity is intricically
one. Here all blades of grass, wood and stone, all things are one.
–
Hal Bridges, American Mysticism, Harper and Row, 1979, p. 3. |