KHỔNG GIÁO VÔ THẦN HAY HỮU THẦN
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

«Khổng
giáo vô thần hay hữu thần» đó là
một đề tài đã gây sóng gió hơn một trăm năm tại Trung Hoa và Âu Châu.
Cho nên khảo về vấn đề này và đặt lại nó vào hoàn
cảnh lịch sử của nó, ta sẽ hiểu rõ tại sao xưa, người ta lại có những quan niệm
tương phản nhau, và nhân đó cũng sẽ giúp cho chúng ta có một ý niệm chính xách
hơn về vấn đề.
Trong bài này tôi sẽ trình bày vấn đề một cách
khách quan và sẽ lần lượt bàn về:
Muốn bàn về vấn đề này chúng ta hãy cùng nhau trở
về dĩ vãng, sống lại khoảng đầu thế kỷ XVII, khi mà các giáo sĩ Âu Châu bắt đầu
sang truyền giáo tại Trung Hoa một cách qui mô và liên tục.
Nói thế có nghĩa là trước thế kỷ XVII, các giáo hoàng
và vua chúa Âu Châu cũng đã từng có những liên lạc ngoại giao với Trung Quốc.
Giáo hoàng Innocent IV (1241-1254) đã gửi một sứ
thần tên là Jean de Plan sang vua Thái Tổ (Gengis Khan) nhà Nguyên ở Karakourum.
Vua Louis IX (1214-1270) nước Pháp đã tìm cách
ngoại giao với vua chúa Trung Hoa qua trung gian Guillaume Ruysbroeck.
Giáo hoàng Clément IV (1265-1268) cũng đã có liên
lạc ngoại giao với vua Thế Tổ nhà Nguyên (Koubilai Khan) ở Bắc Kinh.
Những liên lạc ngoại giao ấy nhằm vào hai mục
đích: giảng giáo và tìm một liên minh mạnh mẽ có thể uy hiếp Hồi giáo ở phía sau
lưng.
Năm 1269, Nguyên Thế Tổ cũng đã gửi sứ thần sang
Tòa Thánh xin Giáo hoàng gửi cho 100 đại biểu đến họp đại hội các tôn giáo ở Bắc
Kinh.
Nhưng mãi đến đầu thế kỷ XVII, các giáo sĩ Âu Châu mới sang Trung Hoa đông đảo.
Chúng ta ghi nhận: Linh mục Matteo Ricci, dòng Tên, đã tới Bắc Kinh năm 1598, và
đã xin vào bệ kiến vua Khang Hi ngày 4-4-1601, với tư cách một nhà bác học thông
thiên văn, địa lý, toán học, sẵn sàng phục vụ nhà vua…
I. THÁI ĐỘ CHUNG CỦA CÁC GIÁO SĨ ÂU CHÂU KHI SANG
GIẢNG GIÁO BÊN TRUNG HOA.
Các giáo sĩ sang giảng giáo ở Trung Hoa dĩ nhiên
là những người can trường, coi thường sinh mệnh; lắm người lại rất có học thức.
Nhất là các linh mục dòng Tên: Ngoài khả năng đạo
giáo, họ còn có nhiều tài ngoại như am tường thiên văn, lịch số, âm nhạc, kỹ
thuật. Linh mục Shall còn đúc cả súng giúp vua nhà Minh.
Các linh mục dòng Tên thường có một thái độ uyển
chuyển hơn, chủ trương chinh phục Khang Hi và triều đình trước đã, rồi ra sẽ
chinh phục được dân chúng một cách dễ dàng.
Họ muốn dùng đạo Khổng làm bàn đạp để giảng đạo
Công giáo, nên chủ trương phải khen đạo Khổng, nhưng khen một cách vừa phải; còn
nếu cần chê, thì chê nhẹ nhàng. Trái lại cần phải đả kích Phật, Lão nặng nề.
Các giáo sĩ các dòng khác thường có thái độ cố
chấp, cho rằng ngoài dân Do Thái ra không thể nào có dân nào khác được mặc khải
về Thiên Chúa.
Họ coi các dân tộc Á Đông như là những dân tộc man
di, mọi rợ; giống «khỉ», nhiều hơn là giống «người»,
có thành Công giáo thì cũng chỉ thành được những thứ công giáo thấp kém,
không thể nào coi ngang hàng với người Âu Châu được.
Các giáo sĩ Âu Châu hồi ấy lại còn bị ảnh hưởng nặng nề của giáo phái
Jansénisme, nên đã cho rằng:
«Những dân tộc sống ngoài đạo công giáo đều sa địa ngục hết.
«Vua chúa Trung Hoa đều sa địa ngục hết.»
«Khổng Tử cũng sa hỏa ngục đời đời như các đại triết gia Hi-Lạp: Platon,
Socrate, Pline, Aristote Sénèque…»
Giám mục Maigrot, sứ thần tòa thánh (1652-1730) đã
dám nói thẳng vào mặt vua Khang Hi rằng nhà vua là một kẻ theo tà đạo.
Giám mục Tournon, vị sứ thần tòa thánh đại diện
Giáo Hoàng Innocent X, đến Bắc Kinh vào tháng 12 năm 1705 cũng tuyên bố: «Vua
cũng như các bậc thức giả Trung Hoa đều là vô thần, đều theo tà đạo, các lễ nghi
Trung Hoa đều là dị đoan và đáng cấm đoán. Và vì quyết định đó là của Giáo Hoàng
nên không thể bàn cãi gì được nữa.»
Nhiều nhà truyền giáo lại còn cho rằng lịch sử
Trung Hoa không thể nào lâu lai, cổ kính, như người Trung Hoa đã viết, vì nếu
thực như vậy, là trái với thánh kinh!
Nói chung thì các giáo sĩ Âu Châu đã chủ trương
phải phá bình địa các đạo giáo, các học thuyết triết học Trung Hoa để giảng rao
Thiên Chúa giáo.
Những thái độ cứng rắn và cao ngạo nói trên cũng
có thể giải thích thêm được, nếu chúng ta ghi nhớ rằng Trung Hoa càng ngày càng
mất thế giá trước những thế lực đang lên của Tây phương, với những chiến hạm và
những họng súng đen ngòm càng ngày càng sẵn sàng cho dân Trung Hoa nếm mùi đạn
lửa.
Hiểu được thái độ chung nói trên, chúng ta mới
hiểu rõ tầm mức giá trị của những lời phê phán của họ về Khổng giáo.
II. QUAN NIỆM CỦA ÍT NHIỀU GIÁO SĨ DÒNG TÊN VỀ KHỔNG GIÁO VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG
GIÁO CỦA CÁC NGÀI
Nói là Dòng Tên nhưng thực ra chỉ có một số ít
linh mục dòng Tên như Ricci, Lecomte, Couplet, Intorcetta, Rougemont, du Halde
v.v… chủ trương Khổng giáo hữu thần, còn nhiều linh mục dòng Tên khác như
Longobardo, Ruggieri cũng cho rằng Khổng giáo là vô thần.
L.M. Ricci chủ trương: «Tôi đã nhận thấy có nhiều
đoạn (trong Tứ thư, Ngũ kinh) phù hợp với tín ngưỡng chúng ta, ví dụ như Thiên
Chúa duy nhất, linh hồn bất tử, các thánh nhân được vinh quang v.v…»
Cha Lecomte viết: «Đạo giáo Trung Hoa hình như đã
giữ được tinh toàn qua các thế hệ những chân lý chính yếu mà Thiên Chúa đã mặc
khải cho những người sơ thủy. Trung Hoa, lúc sơ khai, may mắn hơn các nước trong
hoàn võ, đã thâu lượm hầu như từ chính mạch chính nguồn, những chân lý thánh
thiện và chính yếu cho đạo giáo cổ thời của họ. Những vị Hoàng đế đầu tiên đã
xây đền thờ Thiên Chúa, và thực không phải là một vinh dự nhỏ cho dân Trung Hoa
vì đã tế lễ Tạo Hóa trong một đền thờ cổ kính nhất thiên hạ. Niềm đạo hạnh ban
sơ đã gìn giữ được trong dân chúng nhờ công lao của các vị Hoàng đế, vì thế mà
tà đạo đã không lọt được vào Trung Quốc…»
Cũng nên ghi nhận rằng quan điểm trên đây của cha
Lecomte đã hoàn toàn bị Đại học Sorbonne phi bác.
Cha Du Halde, trong bộ sách của ông về Trung Hoa
cũng đã bình luận dài dòng về đạo giáo Trung Hoa.
L.M. Du Halde viết: «Trong kinh Thư, ta thấy các
vị Hoàng đế Trung Hoa khẩn cầu Thượng đế để ngài đừng gieo tai giáng họa cho
dòng dõi mình.
«Cũng nên ghi nhận rằng họ gán cho Thượng đế những
đặc tính xứng đáng và thích nghi cho một vị chủ tể hoàn võ. Họ cho rằng Thượng
đế toàn năng, biết quan phòng, thông sáng, công bình nhân ái. Họ gọi Ngài là
cha, là Chúa, họ thờ Ngài bằng một sự phụng thờ và tế lễ thích hợp với sự cao cả
tuyệt phẩm của Ngài, và bằng cách tu nhân tích đức. Họ quả quyết rằng lễ nghi
bên ngoài không làm đẹp lòng Trời mà lễ nghi chỉ đẹp lòng Trời khi nó xuất tự
tâm xoang…»
Du
Halde lại còn dùng lịch sử để chứng minh rằng liên tiếp qua nhiều thời đại,
nhiều thế hệ, từ Phục Hi, Thần Nông, Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ
v… các vua chúa đã thờ phụng thượng đế, và dẫn chứng nhiều đoạn kinh Thi chứng
minh điều đó.
L.M. Du Halde cho rằng: «Gọi người Trung Hoa là vô
đạo là một sự mạ lị bất công.»
Ông tuyên bố rằng với tư cách một sử gia. Ông cần
minh xác rằng các học giả Trung Hoa khi dùng những danh hiệu Trời hay Thượng đế
đã hiểu là đấng Tạo Hóa.
Ông cũng cho rằng Thiên hay Thượng đế cũng đồng
nghĩa.
Các Linh mục dòng Tên còn họp nhau lại để bình
dịch Luận Ngữ, Trung Dung, Đại Học, dưới nhan đề là: Confucius sinarum
philosophus, xuất bản tại Goa ngày 1 tháng 10 năm 1667 (dưới tiêu đề:
Sinarum scientia politico-moralis) và tại Trung Hoa.
Trong tập sách này ta thấy có tiểu sử của Khổng Tử
do L.M. Intorcetta viết.
Intorcetta hết sức ca tụng Trung Dung, và cho rằng
đó là một bình minh báo trước mặt trời Phúc âm.
Trong tiểu sử Khổng Tử, L.M. Intorcetta đã kết
luận: Đừng nên khen Khổng Tử thái quá, vì như vậy sẽ cho dân Trung Hoa càng thêm
lòng tôn kính Khổng Tử hơn. Nhưng mà muốn chê, cũng phải dè dặt… bởi vì «nếu
chúng ta khinh khi và phi bác một người dạy dỗ không biết bao nhiêu là những
điều hợp nghĩa lý, và đã luôn luôn cố gắng sống đúng theo những lời dạy, thì đối
với người Trung Hoa, người Âu Châu chúng ta có thể trở nên những kẻ thù địch,
không phải của vị sư biểu của họ, mà chính là những kẻ thù địch, của lý trí,
muốn vùi dập ánh sáng lý trí hơn là phi bác Khổng Tử.»
Dòng Tên như vậy đã muốn dung hợp Khổng giáo với
Công giáo. Các ngài đề nghị:
- Dùng chữ Thiên để dịch chữ «DEUS» (Dieu) của
Công giáo.
- Cho phép dân chúng, khi đã theo Công giáo, được
tiếp tục dự những ngày quốc lễ tôn sùng Khổng Tử.
- Cho phép họ được tiếp tục kính nhớ tổ tiên,
hương hoa cúng quải.
- Dùng tiếng Trung Hoa thay tiếng Latinh để hành
lễ bên Trung Hoa.
Những đề nghị táo bạo trên đã gây sóng gió tại
Trung Quốc và Âu Châu, giữa:
- Các giáo sĩ dòng Tên, có vua Khang Hi làm hậu
thuẫn.
- Các giáo sĩ các dòng khác, có các Giáo Hoàng làm
hậu thuẫn.
Rốt cuộc dòng Tên đã thua, bị gán cho những tội
hết sức ghê gớm, như phá hoại đạo Công giáo, phá hoại giáo hội, và bị giải tán
vĩnh viễn theo lệnh của Giáo Hoàng Clément XIV (1769-1774).
Sử
gia Toynbee, sau này cho rằng những giáo sĩ dòng Tên thực đã hiểu biết sự cần
thiết phải lưu tâm đến tâm lý những người bản quốc, nhưng giáo hội công giáo đã
làm mất cơ duyên tốt đẹp ấy.
III. QUAN NIỆM CỦA ĐA SỐ CÁC GIÁO SĨ KHÁC VỀ KHỔNG GIÁO VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG
GIÁO CỦA CÁC NGÀI. THÁI ĐỘ CỦA CÁC GIÁO HOÀNG
- Qua ngôn ngữ, thái độ của các vị sứ thần Toà
thánh như:
. Moralèz (sang Trung Hoa khoảng năm 1638)
. Navarette (sang Trung Hoa khoảng năm 1649)
. Maigrot (1852-1730, sang Trung Hoa năm 1681)
. Tournon, sứ thần của giáo hoàng Clément XI, sang
Bắc Kinh năm 1705.
. Mezzabaraba (Carlo) sang tới Macao tháng 9,
1720.
- Qua ngôn ngữ, thư tịch của các giáo sĩ Âu Châu.
- Qua thông điệp và thái độ của nhiều giáo hoàng
liên tiếp nhau,
ta thấy rằng các ngài cho rằng:
. Khổng giáo là vô thần vì không tin có Thiên
Chúa.
. Không thể nào có một sự tương dung, tương hợp
nào được giữa Khổng giáo và Công giáo.
. Khổng Tử cũng như các vị vua chúa Trung Hoa từ
thượng cổ cho đến thời ấy, đều sa hỏa ngục hết.
Dưới đây xin lược qua về thái độ của ít nhiều Giáo
Hoàng:
- Innoncent X (1644-1655) ra sắc chỉ phi bác lề
lối giảng đạo và quan điểm của dòng Tên.
- Alexandre VII (1655-1667) bênh vực quan điểm của
dòng Tên, cho phép tôn kính Khổng Tử và tổ tiên.
- Clément IX (1667-1669) ra lệnh phải thực thi cả
hai sắc chỉ nói trên, tuy chúng mâu thuẫn nhau.
- Innocent XII (1691-1700) phi bác quan điểm của
dòng Tên (năm 1695), sai sứ thần là Maigrot sang Trung Hoa.
Clément XI (1700-1721) ra sắc chỉ Ex Illa die
ngày 19-3-1715, bắt buộc phải dùng danh từ duy nhất Thiên chúa, bỏ chữ Thiên,
chữ Thượng đế, cấm người Công giáo tham dự các cuộc lễ kính Khổng Tử, cấm tôn
kính tổ tiên theo kiểu Trung Hoa.
Ngài sai Tournon, Mezzabarba sang Trung Hoa.
- Innocent XIII (1721-1724) lại ra sắc chỉ tái cấm
các nghi lễ Trung Hoa (1723).
- Clément XII (1730-40) cấm không cho dòng Tên
được phép giảng đạo tại Trung Hoa.
-
Benoit XIV (1740-1758) ra sắc chỉ Ex qui singulari năm 1742 xác nhận lại
các lời cấm đoán của các Giáo hoàng tiên nhiệm.
- Clément XIV (1769-74) ra sắc chỉ Dominus ac
Dominator mùa hạ năm 1773 phá hủy vĩnh viễn dòng Tên.
Tuy nhiên ở đời chẳng có gì là vĩnh viễn:
- Giáo hoàng Pie VII (1800-20) lại cho phép tái
lập dòng Tên năm 1814.
-
Giáo hoàng Pie IX (1846-1878) với sắc chỉ 10 tháng 8, 1863, đã tuyên bố những
người ngoại giáo ngay lành vẫn có thể lên thiên đường.
Thánh bộ Truyền giáo, dưới triều Pie XII, với sắc
lệnh ngày 8 tháng 12, 1939, lại cho phép dự các cuộc tế tự Khổng Tử, và được
quyền tỏ lòng tôn kính tổ tiên đã quá vãng như cúi đầu trước di ảnh, trước bài
vị v.v…
Đó là những điều mà giáo hội đã tuyệt đối cấm 200
năm về trước, và cho thế là tà đạo.
IV. QUAN ĐIỂM CỦA VUA KHANG HI
Vua Khang Hi mà nhiều giáo sĩ buộc cho tội vô thần
vô đạo, thật là con người hữu thần, hữu đạo.
Năm 1705, sau khi đã cho các giáo sĩ dòng Tên một
số tiền lớn là 10.000 lang bạc để xây cất 1 giáo đường ở Bắc Kinh, chính nhà vua
lại còn đích thân cho một bức hoành phi và một đôi câu đối để viết trước cửa
giáo đường như sau:
HOÀNH PHI: VẠN HỮU CHÂN NGUYÊN
(căn nguyên chân thật của vạn loài)
CÂU ĐỐI:
- VÔ THỦY VÔ CHUNG, TIÊN TÁC HÌNH THANH, CHÂN CHỦ
TẾ.
- TUYÊN NHÂN TUYÊN NGHĨA, DUẬT CHIÊU CHƯNG TẾ, ĐẠI
QUYỀN HÀNH.
(Vô thủy vô chung, tạo dựng muôn loài, chân chủ
tế,
Chí nhân chí chính, quản cai vạn sự, đại quyền
hành.)
Trong khi các giáo sĩ chia rẽ nhau, người cho rằng
đạo Khổng vô thần, người cho rằng đạo Khổng hữu thần, tất cả đều ước mong được
vua Khang Hi cho biết ý kiến. Họ đồng ý rằng: Nếu vua cho rằng đạo Khổng là hữu
thần, nếu vua cho rằng Thiên chính là Thiên chúa, thì họ sẽ chịu không còn dám
kết án Khổng giáo là vô thần nữa.
Mà quả thật nhà vua đã ra nhiều sắc chỉ, sau trước
đều đồng quan điểm với các giáo sĩ dòng Tên.
Ngày 30-11-1700, vua Khang Hi giáng chiếu như sau:
«Đối với các việc tế lễ mà các vua chúa thời xưa quen dâng kính Trời, đó là
những việc tế lễ mà các triết gia Trung Hoa gọi là … tế lễ Trời Đất, mục đích là
để tôn kính Thượng Đế… cho nên dĩ nhiên không phải là dâng tế lễ cho trời hữu
hình, hữu chất, mà là dâng cho đấng chủ tể đã tạo thành trời đất, muôn vật.»
Ngày 17 tháng 1 năm 1917, tức là sau sắc chỉ Ex
illa die của đức Giáo Hoàng Clément XI, vua Khang Hi ra sắc chỉ cho phép các
giáo sĩ được tiếp tục giảng giáo với điều kiện phải chấp thuận rằng:
(1) Trời của người Trung Hoa cũng chính là Chúa
của người Công giáo, cho nên gọi Ngài bằng một danh hiệu (Trời) thì rất là hợp
lý.
(2)
Các lễ kỷ niệm Khổng Tử.
(3)
Sự tôn kính tổ tiên không có gì là trái với Công giáo.
Những vì ba điều khoản trên đã bị giáo hoàng
Innocent XIII phi bác năm 1695 và Clément XI năm 1704, nên sứ thần tòa thánh lúc
ấy là Tournon nhất định không nhượng bộ.
Vua Khang Hi có lần hỏi sứ thần tòa thánh là
Mezabarba rằng Giáo Hoàng lấy quyền gì mà đoán định về đạo giáo Trung Hoa, thì
sứ thần tòa thánh trả lời: «Ngài đã được chúa Thánh Thần soi sáng nên không thể
sai lầm trong những vấn đề có liên hệ đến tín lý. Vua Khang Hi phản pháo và trả
lời rằng vua đã đọc và đã so sánh sắc chỉ Ex Illa Die của Giáo Hoàng với
bản phúc trình và thông điệp của Giám mục Maigrot, (đã viết ra trước) và ngài
thấy giống in nhau; như vậy «nếu Giáo Hoàng được chúa Thánh Thần giúp trong các
quyết định, thì chúa Thánh Thần Công giáo âu hẳn là Giám mục Maigrot.»
Vua rất ghét Giám mục Maigrot. Vua muốn chứng minh
rằng các giáo sĩ chẳng biết gì về Hán tự mà cả gan dám xía vào công việc giải
thích ngôn từ Trung Hoa, nên trong buổi triều kiến ngày 2-08-1706, vua Khang Hi
đưa bốn chữ Hán bắt giám mục Maigrot đọc. Ông chỉ đọc được có 2 chữ.
Sau khi đã đọc sắc chỉ Ex Illa die của Giáo
hoàng Clément XI. Vua Khang Hi rất giận và đã nói thẳng với sứ thần tòa thánh là
Mezzabarba rằng đức Giáo Hoàng đã dựa vào những phúc trình sai lạc của những
giáo sĩ không am tường Hán văn và đạo giáo Trung Hoa, nên đã có những quyết định
sai lạc. Trong các món quà mà vua Khang Hi nhờ sứ thần Mezzabarba gửi tặng đức
Giáo hoàng, thấy có một tảng muối mỏ, ý muốn nói Giáo Hoàng ăn muối mỏ sẽ sáng
trí khôn ra hơn …
Những sự va chạm giữa Giáo Hoàng và vua dĩ nhiên
là có những hậu quả không hay.
Năm 1723, giáo hoàng Innocent XIII ra sắc lệnh tái
cấm lễ nghi Trung Hoa, thì năm 1724 vua Ung Chính ra sắc chỉ cấm đạo Công giáo,
và trong đời vua đã có hơn 300 nhà thờ bị phá hủy và mấy trăm ngàn người Công
giáo bị bắt bớ…
Tuy giáo hội đã thất bại trong công cuộc giảng
giáo ở Trung Hoa, nhưng các giáo sĩ ít ra cũng đã thành công trong việc gây ấn
tượng sâu xa vào trí não mọi người rằng Khổng giáo cũng như đạo Phật, đạo Lão
đều là vô thần.
Vì thế chúng ta cũng không lấy làm lạ, khi thấy
sau này những học giả như L.M. Henri Doré chuyên khảo về đạo giáo và văn hóa
Trung Hoa đã đặt cho bộ sách của ông một nhan đề là: Recherches sur les
Superstitions en Chine. Và chúng ta cũng không lấy làm lạ khi các giáo sĩ
như Zottoli, Couvreur, Wieger sau này toàn dịch Thiên là Ciel, Thượng đế
là Le Roi d’en Haut chứ không dám dịch là Dieu.
James Legge trong bài tựa quyển kinh Dịch của Ông,
đã kể lại rằng vì ông dám dịch Trời là God, nên đã bị nhiều giáo sĩ giảng đạo
bên Trung Hoa gửi thư về phản kháng và cho rằng dịch như vậy là sai.
Phân tách lại những lời vua Khang Hi phiền trách
các đức Giáo Hoàng thời ấy, ta thấy hiện rõ ra mấy điểm sau:
Các ngài đã không tin những giáo sĩ dòng Tên là
những người thông hiểu tâm lý Á Châu, lại cũng là những người rất tinh tường về
Hán tự, mà lại đi tin những giáo sĩ chân ướt chân ráo ở Trung Hoa, không biết gì
về đạo giáo, về phong tục tập quán, về từ ngữ Trung Hoa, để rồi đưa ra những
nhận định hết sức sai lầm, những quyết định hết sức tai hại.
Gần đây ông Malcolm Hay cũng có những nhận xét đại
loại như vậy. Ông viết: «Ferdinand Verbiest (dòng Tên) là một nhà thiên văn, một
nhà toán học, một kỹ sư cơ khí, đã ở Trung Hoa 40 năm và đã gây được nhiều cảm
tình với những học giả Trung Hoa. Verbiest đã gặp phải cái nạn là làm bề trên
dòng Tên tại Trung Hoa thời mà Maigrot và Pallu sang tới Trung Hoa tức là vào
năm 1684. Maigrot và Pallu đã dạy Verbiest cách phải làm để giảng đạo và thu
phục người Trung Hoa. Ít người trong giới Công giáo ngày nay đã biết chuyện L.M.
J.H.M. de Prémare (1665-1735), một học giả lỗi lạc về Trung Hoa. Ông đã dày công
khảo cứu các thư tịch Trung Hoa trong vòng 30 năm trời, ấy thế mà đã bị hàng
giáo phẩm La Mã vừa mới tới Trung Hoa, không hề biết chữ Hán nào, bắt ông phải
thay đổi những ý nghĩa mà ông đã tìm ra. Ông chỉ được phép ở lại chức cũng với
các đồng nghiệp ông, với điều kiện là tuyên thệ thay đổi quan điểm của ông.»
V. QUAN NIỆM THƯỢNG ĐẾ QUA TỨ THƯ NGŨ KINH
Lập luận của các giáo sĩ Âu Châu, khi cho rằng
Khổng giáo là vô thần, đại khái có thể toát lược như sau:
Công giáo tin có một đấng Chủ tể Càn khôn và thờ
phượng đấng chí tôn ấy, cho nên đạo Công giáo là đạo hữu thần.
Khổng giáo không biết đấng Chủ tể Càn khôn ấy, lại
thờ trời, mà theo họ thì trời chỉ là trời mây, vô tri vô giác, vì thế Khổng giáo
là vô thần, tà đạo.
Linh mục Ruggieri viết: «Trời không phải là thần
minh mà là tòa của thần minh… Có thể ông Khổng đã dùng chữ trời mà chỉ một trí
tuệ tối cao, nhưng tôi không biết ông Khổng đã nghĩ thế nào?»
Thật là một luận điệu hết sức ngây ngô !
Ở Á Đông thì chắc không ai dám nghĩ rằng Trời là
trời mây khi nói Trời xem, Trời nghe, Trời giận, Trời phạt, Trời muốn, v.v.
Ở Bắc Kinh xưa có đền thờ Trời trong đó có bốn chữ
đại tự thiếp vàng: Hoàng Thiên Thượng Đế.
Chẳng lẽ Hoàng Thiên Thượng Đế cũng là trời mây vô
tri giác? Khảo Tứ Thư Ngũ Kinh ta thấy người xưa đã coi Trời như là một vị Chủ
tể Càn khôn, một vị Thượng đế cai quản quần sinh vũ trụ.
Điều này quá rõ ràng sáng tỏ, mà bất kỳ một người
nào có thiện tâm thiện chí cũng phải công nhận như vậy.
Ta chỉ cần lấy ít nhiều câu trong Tứ Thư Ngũ Kinh
minh chứng điều ấy.
Khảo Tứ Thư Ngũ Kinh, ta thấy người xưa chẳng
những tin Trời, kính Trời như vị Chúa tể Càn khôn mà còn ước mong có một đời
sống thánh thiện như Trời.
Trong Mạnh Tử, có thuật lời đức Khổng bình về vua
Nghiêu như sau: «Vua Nghiêu đức nghiệp lớn thay. Chỉ có Trời là lớn, chỉ có vua
Nghiêu bắt chước Trời.»
Khi vua Thuấn lên ngôi (2255) đã tế lễ Thượng đế.
Vua Đại Võ, khi còn là hiền thần đã biết khuyên
vua Thuấn sống đời đức hạnh «để có thể huy hoàng rước lấy Thượng đế.»
Lúc trị thủy thành công trở về, Đại Võ dâng vua
Thuấn một tấm ngọc huyền khuê, để báo cáo công việc hoàn thành.
Phó Diễn bình rằng: Võ dâng Thuấn ngọc huyền khuê là muốn nói cùng vua Thuấn:
«Đức hạnh nhà vua đồng nhất với đức hạnh của Trời.»
Các vua sáng lập nhà Ân (1766-1122) cũng đã biết
sống cuộc đời phối kết với Thượng đế.
Kinh Thi viết:
«Thủa nhà Ân còn thời thịnh trị,
Đã từng cùng Thượng đế tất giao.»
Vũ Vương (1122 tcn) đã điều động binh tướng đánh
Trụ Vương với danh nghĩa «Thay Trời trừ bạo». Trong bài diễn văn quan trọng để
hô hào tướng sĩ ở Mạnh Tân, sau khi đã kể tội ác của Trụ Vương thì Vũ Vương nói:
«Hoàng thiên đã chấn nộ, sai cố quân tôi là Văn Vương kính cẩn ra oai Trời,
nhưng đại sự chưa thành tựu. Tôi nay còn là trẻ nít, ngày đêm những cùng lo sợ.
Tôi đã nhận lãnh sứ mạng do cố quân tôi, tôi đã tế lễ Thượng đế, tôi đã làm lễ
nghi kính đất đai, và tôi nay hướng dẫn chúng tướng sĩ thi hành hình phạt của
Trời. Trời thương dân chúng. Cái gì dân muốn, Trời cũng sẽ nghe theo. Xin các
tướng sĩ hãy giúp tôi quét sạch bốn biển. Thời cơ này xin chớ để mất.»
Lúc lâm trận Mục Dã, trước một đạo binh vô cùng
đông đảo của Trụ Vương, để khuyến khích ba quân, Võ Vương đã kêu lên: «Thượng đế
ở với ba quân, ba quân hãy vững lòng vững dạ.»
Kinh Thi viết:
Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,
Một rừng người chật cả sa tràng.
Cho ba quân thêm dạ sắt gan vàng,
Võ Vương kêu: Thượng đế ở cùng ta đó,
Ba quân hãy vững lòng vững dạ.
Thượng đế trong Tứ Thư Ngũ Kinh có nhiều danh
hiệu:
Đế,
Thượng Đế,
Thiên,
Hoàng Thiên,
Thượng Thiên,
Hoàng Thượng Đế,
Thiên Hoàng Thượng Đế,
Thượng Thiên Thần Hậu,
Hoàng Hoàng Hậu Đế
… Ấy là chưa kể
đến những danh từ trừu tượng siêu hình như Dịch,
Thần,
Thái Cực,
v.v.
Trong Cựu Ước Công giáo, nhiều khi ta thấy Chúa
mượn hình người xuống gặp gỡ các tổ phụ, ví dụ đã gặp Abraham ở gốc cây sồi
Mambré (Sáng thế ký, 18-1, 23) hay Jacob (Sáng thế ký, 32-22,25) hay Moise
(Exode, 32-10,11), v.v.
Trong Tứ Thư Ngũ Kinh trái lại tuyệt nhiên không
có sự hiển hình theo nhân dạng đó, vì Khổng giáo chủ trương Trời không tiếng
không hơi (vô thanh vô xú).
Tuy nhiên, Thi, Thư cũng một đôi lần ghi chép những lời Thượng đế phán bảo cùng
các vị thánh vương.
Kinh Thư, thiên Duyệt mệnh thượng ghi chép: Vua
Cao Tông (Vũ Đinh, 1325 tcn) nằm mộng thấy Thượng đế ban cho một hiền thần. Vua
tỉnh dậy, cho họa đồ hình, tìm tòi khắp trong nước. Quả nhiên gặp được Phó Duyệt
ở đất Phó Nham đúng như trong hình vẽ. Vua bèn phong Phó Duyệt làm tể tướng và
giữ luông bên cạnh mình.
Kinh Thi, thiên Hoàng hĩ, có ghi những lời Thượng
đế phán bảo cùng Văn Vương.
Kinh Thi viết:
Thượng đế gọi vua Văn phán bảo,
Ngươi chớ nên trở tráo đảo điên.
Đừng cho dục vọng tần phiền,
Đừng vì ngoại cảnh rối ren tơ lòng.
Trời đôi khi cũng phẫn nộ
vì những lỗi lầm,
thất bại,
hay tội lệ
của các nhà cầm quyền; có khi cũng ra uy
giáng tai ách,
nhưng thật ra ngài thương muôn dân vô hạn,
đến nỗi muốn đồng hóa mình với chúng dân.
Kinh Xuân Thu cũng viết: «Trời rất thương dân. Có
lẽ nào Trời để cho một người trị dân theo ý mình, theo tính xấu mình mà phế bỏ
tính trời đất, ắt không thể nào được.»
Kinh Thi viết:
«Kìa Thượng đế muôn trùng cao cả,
Oai nghi nhìn thiên hạ chúng dân.
Nhìn quanh tứ phía hồng trần,
Tìm xem ai kẻ trị dân an bình.»
Bởi vì:
«Sinh dân Trời chẳng bỏ liều,
Liệu người cai quản đến điều mới thôi.»
Khảo cứu Tứ Thư Ngũ Kinh ta không khỏi ngạc nhiên
khi thấy dân Trung Hoa xưa đã thờ Trời, tin Trời, kính sợ Trời. Hơn thế nữa, họ
còn coi Trời như cha, vì thế mà vua nhiều khi được mệnh danh là nguyên tử
(con đầu của Thượng đế). Trịnh Khang Thành bình rằng: «Phàm là người ta,ai cũng
là con Trời, thiên tử là con đầu, là trưởng tử.»
Chính Trời cai trị chúng dân.
Kinh Thi viết:
«Trời xanh dẫn dắt chúng dân,
Như là tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,
Trời người đôi ngọc chương khuê,
Bên cho bên lấy đề huề xiết bao.
Tay cầm tay giắt khéo sao,
Trời xanh dẫn dắt dần nào khó chi.»
Như vậy các vua quan chỉ là những người đại diện,
những thiên sứ, những tôi tá của Trời.
Một tổ chức xã hội như vậy là thiên trị (théocratie) tức là được cai trị bởi
Trời qua trung gian vua chúa.
Các trang thánh hiền, các thánh quân, hiền thần
đều ước ao sống cuộc đời thánh thiện, phối kết với Thượng đế.
Những chữ «phối thiên», «khắc phối Thượng đế»
được đề cập nhiều lần trong Tứ Thư Ngũ Kinh.
Thực là lạ lùng khi nhận thấy người xưa đã có một
niềm tín ngưỡng sâu xa về Thượng đế như vậy, một lý tưởng đạo hạnh tuyệt vời như
vậy. Ngày nay khảo sát lại, chúng ta chỉ có thể cúi đầu bái phục mà thôi.
Như vậy, Khổng giáo xét theo Tứ Thư Ngũ Kinh không
có cách nào mà có thể cho là vô thần được.
Cho như vậy, chỉ có thể: Một là không bao giờ đọc
tới Tứ Thư Ngũ Kinh; hai là đọc mà không hiểu; ba là đọc hiểu nhưng không có
thiện tâm thiện chí, cố ý làm khuất lấp những dữ kiện lịch sử hiển nhiên, những
chứng tích đạo giáo minh bạch. Nhưng không ai có thể mãi mãi làm khuất lấp chân
lý được.
VI. QUAN NIỆM VỀ THÁI CỰC CỦA TỐNG NHO
Các giáo sĩ khi sang Trung Hoa giảng đạo thường
cũng hay có lý luận như sau:
Đã đành, Tứ Thư Ngũ Kinh chấp nhận một đấng chủ tể
tạo dựng vạn vật, đã đành Khổng giáo nguyên thủy không vô thần, nhưng sau này
nhất là từ thời nhà Tống, do ảnh hưởng của Tống nho, Tống Triết, đã trở thành vô
thần, nhất là với ảnh hưởng của Chu Hi, một học giả vô thần.
Bằng chứng là họ dám cho rằng vũ trụ này do Thái
Cực xuất sinh, chứ không phải do Thượng đế tạo dựng v.v…
Như vậy nói rằng Khổng giáo vô thần không có oan.
Trước hết tôi thấy rằng nói Chu Hi là vô thần và
duy vật thì thật oan cho ông.
Tôi chỉ cần dẫn chứng một vài bằng cớ:
- Trong bài tựa Trung Dung, Chu Hi viết: «Đạo chi
bản nguyên xuất ư Thiên nhi bất khả dịch.» mà tôi đã dịch:
«Nguồn đạo ấy phát từ Thượng đế,
Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời…»
- Ông công nhận rằng Trung Dung là một đạo thống
tương truyền của thần thánh thay Trời lập cực từ thượng cổ.
- Ông cho rằng «Thánh nhân là hiện thân của Trời.»
- Ông đã giải chữ Đế trong Thuyết quái của Kinh
Dịch như sau: «Đế là vị chủ tể ở trên trời.»
Ấy
Chu Hi vô thần như vậy đó !
Thứ đến, khi các triết gia cho rằng Thái Cực là
căn nguyên của vũ trụ như vậy có phải là một chủ trương vô thần không?
Du Halde rất sợ danh từ Thái Cực, tuy như ta đã
thấy. Ông rất có cảm tình với Khổng giáo nguyên thủy. Du Halde cho rằng quan
niệm Thái Cực và Lý dễ đưa đến vô thần.
Ông cũng cho rằng danh từ Thái Cực là một danh từ
rất mới, dùng để chỉ căn nguyên vạn hữu, nhưng mãi đến đời Khổng Tử mới có, và
chỉ thấy dùng có một lần trong Kinh Dịch nơi Hệ Từ.
Du Halde cho rằng các triết gia thế kỷ 17 bên
Trung Hoa đã định nghĩa Thái Cực như là Cực điểm, như là Nóc, vì Thái Cực liên
kết các phần tử của vũ trụ này y như cái mái nhà liên kết và duy trì mỗi bộ phận
của cái mái nhà.
Họ cũng sánh Thái Cực với cái rễ nơi cây, với cái
trục nơi bánh xe, và gọi đó là trục, là khu nữu cho vạn loài xoay quanh, là căn
cơ, là cột trụ, là gốc gác vạn sự. Thái Cực không phải là cái gì hư ảo, nhưng
chính là một thực thể có trước trời đất.
Nhưng Lebniz, một nhà toán học và một học giả thời
danh ở Âu Châu thế kỷ 17 và 18 (1646-1716), lại cho rằng quan niệm của Á Châu về
Lý, về Thái Cực chẳng có gì là vô thần, mà đó chỉ là một trong những phương thức
dùng để chỉ Thượng đế.
Wieger sau này cũng cho rằng Thái Cực là Khu nữu,
là Nguyên động lực chi phối vạn hữu.
Ông cũng nhận định rằng Thái Cực chính là Đạo, là
Hoàng cực là Nguyên thể. Ông cũng cho rằng tất cả những danh từ ấy đều là cưỡng
ép, vì Nguyên thể bất khả tư nghị, v.v.
Trong quyển THÁI CỰC LUẬN của tôi, tôi thấy Nho
gia nói về Thái Cực cũng như các triết gia Âu Châu nói về Logos, các triết gia
Ấn Độ nói về Atman, v.v.
Và tôi đã kết luận như sau:
«Đối với các thánh hiền Trung quốc, Thái Cực sinh
xuất vạn hữu. Thái Cực vừa bao quát vạn hữu, vừa lồng trong vạn hữu. Thái Cực là
bản thể của vũ trụ, bất biến, bất thiên, bất sinh, bất hoại, nhưng lại vẫn chủ
trì mọi biến thiên của vũ trụ và của con người.»
«Đứng về phương diện khởi nguyên của vũ trụ, Dịch
kinh chủ trương Thái Cực sinh vạn hữu, Đó nhà Nhất nguyên chủ nghĩa, Thái Cực
tuy là nhất, là Nguyên, nhưng lại biến hóa vô cùng tận. Và Thái Cực cũng là Vô
cực, là Thần, là Thượng đế, siêu xuất trên cơ cấu âm dương, cho nên quan niệm
Thái Cực có thể gọi là hoàn bị hơn quan niệm Apeiron của Anaximandre, quan niệm
duy linh của Platon, quan niệm ngũ hành của Aristote.»
«Quan niệm Thái Cực tương tự như quan niệm Atman
của Bà La Môn, quan niệm Logos của Au Châu, quan niệm đấng Christ vũ trụ của
Teihard de Chardin.»
- «Vì chủ trương Thái Cực chẳng những là bản thể
của vũ trụ, mà còn là Vô cực, là Trời, nên quan niệm Thái Cực không phải là một
quan niệm triết lý thông thường mà còn là một đề tài đạo giáo hết sức quan
trọng.»
- «Đối với các triết gia Trung Quốc, Thái Cực tiềm
ẩn ngay trong lòng vạn hữu, trong lòng con người. Nhưng chỉ có con người mới
nhận ra được chân lý ấy, mới cảm thông được với Thái Cực, mới trở về được với
căn nguyên.»
- «Như vậy quan niệm Thái Cực mở lối cho một
phương pháp tu thân, một phương pháp trở về với Thượng đế, với căn nguyên gốc
gác của mình. Đó là con đường hướng nội, con đường nội tâm, mà xưa nay các thánh
hiền khắp thế giới đã nhất luật băng qua…»
Leibniz cũng cho rằng, ngay trong thời triết học
kinh viện, cũng đã có một triết gia tên là David de Dinant chủ trương rằng
Thượng đế là Nguyên thể của vạn hữu, Spinoza cũng có chủ trương tương tự.
Ta thấy ngày nay Âu Châu cũng có những quan niệm
về Thượng đế hết sức uyển chuyển, bởi vì nào có ai ở trần gian này nói được rằng
chỉ có mình mới hiểu rõ về Thượng đế?
Teilard cho rằng đấng Christ chính là Thủy Chung,
là Căn Cơ là Chốt Nóc, là Thực Thể và là Dung tích, v.v…
Chu Liêm Khê xưa cũng đã gọi Thái Cực là Nhất, là
Tuyệt đối.
Chu Hi đã gọi Thái Cực là Đạo.
Ngày nay các nhà bình dịch Thánh kinh Trung Hoa,
đã dịch Logos bằng chữ Đạo, Phúc Âm Gia An như vậy đã được bắt đầu như sau: Thái
cơ hữu Đạo, Đạo dữ Thần đồng tại.
Cho nên nói rằng chủ trương Thái Cực là nguồn gốc
muôn loài là vô thần, thì cũng y như nói chủ trương Logos là nguồn gốc muôn
loài, là Đầu và là Cuối vạn sự là vô thần vậy.
VII. TỔNG LUẬN
Thiên khảo luận này đã được trình bày một cách hết
sức vô tư. Có lẽ đó cũng là một cái khuyết điểm của nó.
Ta có thể kết luận: Không có cách nào mà nói được
rằng Khổng giáo là vô thần.
Trong thiên khảo luận trên chúng ta đã thấy rõ
rằng người Á Đông không ai mà không chấp nhận rằng Trời hay Thiên chính là chủ
tể vạn hữu, là Hóa công v.v…
Và tôi xin mạn phép kể hầu quí vị một câu chuyện:
Trong khi tôi đang chuẩn bị soạn thảo bài này thì
hôm mồng 4 tết Quí Sửu tôi nhận được một thiếp mời rất đẹp đẽ lịch sự của Cha
G.Lajeune, và xứ đạo Học Lạc Chợ Lớn, nội dung như sau:
Kính mời
Ông Bà…
Vui lòng đến dự buổi lễ «Tế
Thiên, Tự Tổ
» cử hành tại nhà thờ
Phanxicô, 25 đường Học Lạc, Chợ Lớn, lúc 9 giờ sáng, ngày 04 tháng 02 năm
1973, tức ngày mùng hai tháng giêng năm Quí Sửu.
Linh mục chính xứ
G. Lajeune |
Tôi rất vui mừng vì nhận chân rằng những chuyện
cãi vã nhau xưa về chữ Thiên, và vấn đề kính nhớ tổ tiên thực đã là một câu
chuyện huyễn, mà Thiên chính thực là Thượng đế, và đạo Khổng chính thực là hữu
thần vậy.
Sau đây tôi xin mượn lời của G.Pauthier, Trong
Les Livres de sacrés de l’Orient mà kết luận bài này như sau:
«Trong lịch sử, cũng như trong thi văn, trong biểu
dương đạo giáo, cũng như trong suy khảo triết học, Á Đông đã đi trước Âu Châu.
Chúng ta cần tìm biết Á Châu để hiểu chúng ta rõ hơn… Càng biết về Á Châu rõ
ràng hơn, ta càng thấy hiện ra một thế giới mới, một nền văn minh huy hoàng mà
cổ thời chúng ta không ngờ tới được. Chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy rõ chân
tướng của tiền nhân chúng ta, đối chiếu với những dân tộc cổ Á Đông, và càng
ngày chúng ta càng thấy đúng, một cách thấm thía, lời một giáo sĩ Ai cập nói với
Solon (mà Platon đã ghi trong Timée): «Hỡi người thành Athène, các người chỉ là
những trẻ nít ! Các người không hiểu biết được cái gì có trước các người; tưởng
mình hay, tưởng nước mình giỏi, các người chẳng biết những gì về trước; các
người đã tưởng rằng thế giới này bắt đầu có với các người, với thành thị các
người…
«Chúng tôi không ngại quả quyết rằng sự học về các
nền văn minh Á Châu là một điều tối cần thiết cho những ai muốn khảo cứu về khởi
nguyên, về liên lạc dòng dõi giữa các dân tộc, ngôn ngữ, mỹ thuật, đạo giáo,
luân lý, triết học, tóm lại toàn thể lịch sử nhân loại.»
«Chúng tôi cũng không ngại mà quả quyết thêm rằng,
một phần lớn những sách vở đã được in từ khi phát minh ra nghề in (và hẳn là
nhiều), khảo về các vấn đề có liên quan đến các bộ môn nói trên, cần phải được
viết lại, bởi vì đã phát bởi từ những hệ thống không mấy đứng đắn, bởi vì chúng
đã không đếm xỉa đến những nền văn minh quan trọng đó; những nền văn minh đã có,
và hiện còn có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển cộng đồng của nhân loại. Thực ý
thức những người muốn lập ra những hệ thống thiên văn mà đã bỏ qua hay đã không
thèm đếm xỉa những vì sao sáng nhất trong hệ thống vũ trụ!»

They (the
missionaries) despite the «yellow races» of the Orient they tried to convert
these inferior beings and at the same time told each other, in print, and
even told them to their face, that they were so brutish, so contemptible,
that they were hardly worth converting. «Chinese civilisation» wrote a
distinguished missionary priest in the middle of the 19th
century, «is a monstruosity, not only anti-christian, but anti-human…
The religions of the Chinese are monstruous, absurd, the most ridiculous in
the world. «One does not find humanity, he concluded, among the peoples of
the Orient, but only «monkeydom».
Malcolm Hay, Failure in the Far East,
p.167.
The priest of
the Foreign ! Missionary Society announced that: «Confucius was damned to
eternal flames.» (Ib. p.128)
… The Holy Office replied: «Allowing for what
has been said, it is forbidden to say that Confucius is saved.» (lb. p.104)
Navarette, however, reinforced in his
opinions by these decisions, declared five years later, that since
«Socrates, Plato Aristotle, Pliny, Seneca, etc. were irretrievably damned,
how much more Confucius who was not worthy to kiss their feet.» (Ib. p. 129)
Moralèz (1597-1665) has accused the Jesuits
of permitting the Chinese «to ask favours of a man who was damned.», and
Ildefonse de St. Thomas, about 1670, complained that they allowed worship to
be paid «to idols, demons, and persons who are damned.» (Ib. p.128)
… To all appeals and explanations, he
replied with the one word submit! The Pope, he said, had decided that the
Emperor and all the Lettered men of China were idolaters, and that their
rites and ceremonies were superstitious and dammable: and snce his decision
was irrevocable, it could not even be discussed. Ib. 127-128.
In a long
commentary on this memorial (of Kilian Stumpf, The Procurator of the Jesuit
Mission at Pekin, dated 14th May, 1706) the Legate (Tournon) replied that
the Jesuits «in their cabals and evasions had no other resource than to
obtain from a Pagan Emperor what they could not hope for from reason and
sound theology» that the men of Letters «were all atheists and idolaters at
the same time»; and that the Emperor himself professed nothing else but a
mixture of atheism and idolatry… Ib.138.
Tandis que le
P.Couplet faisait partir l’histoire certaine de la Chine du règne de
Houang-ti en 2697 av.J.C, le P.Du Halde ne fait commencer le cycle
sexagénaire donc l’histoire certaine de la Chine, qu’au règne de Yao en 2357
av.J.C…
Bornons nous à contaster que l’audace des
Jésuites en ce qui concerne la chronologie chinoise, loin de croitre avec le
temps ne faisait que diminuer. II suffit, pour s’en rendre compte de
remarquer que du P.Martini au P.Couplet et du P.Couplet au P.Du Halde, la
chronologie chinoise se trouvait réduite de six siècles.
… et qu’elle tendait de plus en plus à
satisfaire les chronologistes es plus intransigeants…
Ainsi donc les Jésuites de Canton, Jésuites
de Paris, Fréret en apparence, pour des raisons diverses et avec des
méthodes différentes, enlevaient tout venin à la chronologie chinoise…
Elle s’adaptait (cete chronologie) de plus en
plus au calcul des temps le plus court, elle tendait à rendre impossible
désormais la négation du Déluge universel en vertu de l’exemple chinois…
La Chine et la Formation de l’esprit
philosophique en France, p. 265.
… Si bien que (pour Martini) l’histoire
authentique de la Chine remonte à l’an 2952 av.J.C. Ib.201.
Les Jésuites
avaient entrepris cette evangélisation sur une échelle cyclopéenne et
s’étaient dressés contre les autres missions catholiques, franciscaines,
capucines et dominicaines, qui toutes croyaient en la politique de la table
rase cad en l’absence totales de compromis avec les cultures et modes de
pensée de l’étranger. Selon cette doctrine opposée à celle des Jésuites, les
missions chrétiennes devaient tenter de convertir les masses et détruire de
fond en comble les civilisations paiennes…
MM. des
Mission étrangère sentent que leur «coup de Chine comme dit le P. Léonard,
va être manqué s’ils ne pressent un peu les lenteurs du Saint Office en lui
forçant la main par un coup d’éclat. Aussi ils jettent le gant aux Jésuites
en publiant la Lettre de Messieurs des Missions Étrangères au Pape sur les
idolâtries et les superstitions chinoises, et ils défèrent à la Faculté de
Paris les Nouveaux Mémoires sur l’état présent de la Chine du P.Lecomte,
l’Histoire de l’Edit de l’Empereur de la Chine du P. Le Gobien et la Lettre
au duc du Maine sur les cérémonies de la Chine du P. Le Comte. De ces
ouvrages ils tirent six propositions qui leur paraissent particulièrement
dangereuses et qu’ils demandent à la Sorbonne de condamner:
(1) La Chine a conservé pendant plus de deux mille ans avant la naisance de
J.C. la connaissance du vrai Dieu; (2) Elle a eu l’honneur de lui sacrifier
dans le plus ancien temple de l’univers; (3) Elle l’a honoré d’une manière
qui peut servir d’exemple même aux chrétiens; (4) Elle a pratiqué une morale
aussi pure que la religion; (5) Elle a eu la Foi, l’humilité, le culte
intérieur et extérieur, le Sacerdoce, les Sacrifices, la Sainteté, les
miracles, l’esprit de Dieu et la plus pure charité, qui est te caractère et
la perfection de la véritable religion; (6De toutes les nations du monde, la
Chine a été la plus constamment favorisée des grâces de Dieu… Cf. La
Chine et la formation de l’Esprit philosophique en France, p.98.
… Le 18 Octobre 1700, la Faculté condamna les cinq propositions qui lui
étaient déférées. Si l’une de ses propositions (la seconde) était seulement
qualifiée de fausse et téméraire d’autres, telles la troisième, étaient
flétries plus vigoureusement: «Cette proposition est fausse, téméraire,
scandaleuse, impie, contraire à la parole de Dieu, et hérétique, elle
renverse la Foi et la Religion chrétienne et rend inutiles la Passion et la
mort de Jésus - Christ. -- Ib, p.103.
On représente
dans le Chu-king ces sages Empereurs en posture de suppliants devant le
Chang-Ti, pour détourner les malheurs dont leurs descendants sont ménacés…
Ce qui est encore à remarquer, c’est qu’ils n’attribuent rien au Chang-Ti,
qui ne soit de la décence, et qui ne convienne au souverain Maître de
l’Univers. Ils lui atribuent la puissance, la providence, la science, la
justice, la bonte, la clémence: ils l’appellent leur Père, leur Seigneur:
ils ne l’honorent que par un culte et des sacrifices dignes de la Majesté
suprême, et par la pratique des vertus; ils assurent que tout le culte
extérieur ne peut plaire au Tien, s’il ne part du coeur, et s’il n’est animé
des sentiments intériteurs…
P.J.B. Du Halde, Description
géographique, historique chronologique, politique et physique de l’Empire de
la Chine et de la Tartarie Chinoise, Tome 3 (1736), p.6.
… Leur culte avait pour premier objet un
Etre suprême, Seigneur et souverain Principe de toutes choses, qu’ils
honoraient sous le nom de Chang-Ti, c’est-à-dire, suprême Empereur, ou de
Tien, qui selon les Chinois, signifie la même chose… (Ib, p.3)
Ib.p.14,15.
Presque tous
les autres Jésuites furent amenés à élaborer une sorte d’oeuvre commune, le
«Confucius sinarum philosophus» qui devait synthétiser leur apologétique
constructive d’une manière systématique…
Quatre supérieurs de la compagnie l’avaient
approuvé successive ment (lgnace a Costa, Jacques le Faure, Mathias a Ma_a,
Félicien Pacheco) et douze missionnaires l’avaient revisé (Antoine de
Gouvea, Pierre Canevari, François Brancati, Jean François de Ferraris,
Jumbert Augeri, Adrien Grelon, Jacques Motel, Jean Dominique Gabiani,
Emmanuel Georges, Philippe Couplet, François Rougemont, Christian
Herdtrich)…
Đọc
Failure in the Far East, các trang:
Moralèz: 102, 128, 166; Navarette:
102, 104, 107, 109, 113, 128, 129, 130n, 166; Maigrot: 116, 117, 120-122,
125, 142-145, 147, 154, 164; Tournon: 101n, 125-127, 130, 132, 135, 140,
142, 143, 145, 146, 157, 161, 164, 168, 171; Mezzabarba: 147, 149, 150, 152.
Evariste
Regis Huc, Le Christianisme en Chine, en Tartarie et en Tibet, Paris
1957. Vol. III p.x.
- Léon Wieger,
Histoire des
croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine, 1922,
p.715.
- Méthode de l’apostolat moderne en Chine, Hongkong, 1911.
But Pius IX
in an Encyclical dated August 10th, 1863, declared that: «Those
who lie under invicible ignorance as regards our most Holy religion, and
who, diligently observing the natural law and its principles… lead a good
and upright life, are able, by the operation of the power of divine light
and grace, to obtain eternal life.» Failure in the Far East, p.129n.
Ấy là chưa kể các thông điệp khác về sau này
đã quả quyết điều đó; xin đọc Lumen
gentiun 6; Gaudium and Spes 22; At Gentes 7. – Spiritus, Cahiers de
spiritualité missionnaire no.39, p.386.
Deux siècles plus tard, le 8
décembre 1939, le Vatican revint sur sa décision et déclara officiellement
que le culte des ancêtres et les rites confucianistes n’étaient pas
incompatibles avec la foi chrétienne. Mais cette prise de position venait
deux cents ans trop tard. Cf. Amaury de Riencourt, L’Âme de la Chine,
p.227. - Xin đọc bản dịch tiếng Anh sắc chỉ này trong Failure in the Far
East, tr.190.
Xem Malcolm Hay, Failure in
The Far East, p.153. và xem Du Halde, Description géographique,
historique chronologique, politique et physique de l’Empire de la Chine et
de la Tartarie Chinoise Tome 3, 40,41. (Có hình chụp lại bức
hoành phi và 2 câu đối nói trên)
La Chine et la
formation de l’Esprit philosophique en Chine,
p.119.
«Tout ce qu’on peut dire en voyant ce décret
est de se demander comment les Européens ignorants et méprisables osent
parler de la Grande Doctrine des Chinois, eux qui n’en connaissent ni les
règles, ni les pratiques, et ne peuvent comprendre pas même les caractères
qui la fixent.
«Aujourd’hui le légat apporte un décret qui
ressemble à ce qu’enseigment les sectes impures des Hoxans (religieux
bouddhistes) et des Tassous (religieux taoistes) qui se déchirent avec une
cruauté impitoyable.
«Il n’est pas à propos de permettre aux
Européens d’annoncer leur loi à la Chine. Il leur faut défendre d’en parler,
et par ce moyen, on s’épargnera bien des affaires et bien des embarras… «Moi
Empereur, qui m’applique à déméler ce qui est d’avec ce qui n’est pas, moi
qui sais parfaitement distinguer le vrai d’avec le faux, j’ai disputé avec
Yenn-tang (Mgr Maigrot) pendant plusieurs jours sur les articles précédents,
et j’ai démontré qu’on ne pouvait pas les approuver.
«Cet homme ne connaît pas cinquante caractères
chinois, et encore n’en a-t-il jamais bien pénétré le sens. Il est allé
communiquer à Rome les troubles qu’il avait répandus à la Chine. Cet homme
est devenu ‘ennemi de la religion chrétienne; il s’est rendu coupable de
révolte dans l’Empire.
«Mais n’est-il pas surprenant que tant de
personnes que j’ai envoyées à Rome, pas une ne m’a fait réponse et n’a dit
un mot pour me tirer de peine. On a poussé le crime jusqu’à tuer en secret
ceux que j’avais chargés de mes ordres.
«Tous ces malheurs sont des suites de
l’ignorance de Yenn-tang qui n’a su écrire correctement deux caratères de ma
langue. Il a indisposé tout le monde contre lui en Chine. Il mérite d’être
rangé avec les Hoxans et les Tassous qui suivent comme lui une doctrine
perverse.»
Les Jésuites en l’ExtrêmeOrient,
p.183.
… Un Jésuite français éclaire ce point précis:
«L’Empereur devient tout mal plaisant et n’a
que dégout de nous, quand il voit déjà deux légats du Saint Siège n’être
venus de si loin que pour lui enseigner la grammaire chinoise et lui
apprendre de la part de Mgr Maigrot que le T’ien changti de
l’antiquité ne signifie que le ciel matériel et le «ling groé chin hoei»
des tablettes ne signifie que la présence réelle des âmes… Cela nous
fait sécher de douleur.» Ib. p.184.
Few people in the Catholic world today, apart
from specialists in the history of missions, know the story of J.H.M. de
Prémare (1665-1735), one of the greatest sinologists of all time. Although
he had worked on Chinese texts for more than 30 years, he was ordered, by
Roman ecclesiastics who did not know a word of language, to deny the meaning
he had found in them. He was permitted to remain in office only on condition
that he would agree, like the rest of his brethen, to retract his opinions
under oaths…
Malcom Hay, Failure in the Far East,
p.154.
Các giáo sĩ sở dĩ không dám dịch Thiên, Thượng
đế là Dieu vì e làm thế sẽ khó giảng đạo, vì như vậy công nhận Trung
Hoa đã biết chân Chúa từ lâu. Các giáo sĩ cho biết bên Nhật đã dùng chữ
Thiên, Thượng đế để dịch chữ Dieu, nhưng sau đã làm nhiều trí thức
tân tòng bỏ Công giáo. (Des défections retentissantes de chrétiens influents
apprirent bientôt aux missionaires combien il était périlleux au Japon, de
se servir des termes chinois, comme Chang-ti, Tien pour Dieu; ils en
avertirent le visiteur, le P. Pasio qui en référa aussitôt au nouveau
supérieur de la mission de Chine, le P. Longobardo. (Sagesse chinoise et
philosophie chrétienne, p.110). Vì thế sau này Longobardo dịch Thiên,
Thương đế là trời, là ảnh hưởng các nhà khoa bảng công giáo Trung Hoa rất
bất mãn.
Catéchisme du P. Ruggieri (1584),
Operice storiche, Tome II, p.507-520
Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et
philosophie chrétienne, p.99.
Longobardo
conclut sa longue déposition par ces mots: «C’est en cela que consiste tout
le noeud de nos difficultés et de nos controverses.» Premières difficultés
et premières controverses dont le résultat fut heureux, car elles mirent en
pleine lumière le bien-fondé du principe du Père Ricci: s’il est vral en
effet que les lettrés modernes sont dans l’ensemble, athées et
matérialistes, il ne l’est pas moins que les textes anciens se prêtent à une
interprétation spiritualiste. -- Sagesse chinoise et philosophie chrétienne,
p.115.
Sous la dynastie T’ang (Đường) s’étaient
répandues les connaissances mathématiques, cosmologiques et autres, des
Indiens et des Arabes. A cette lumière nouvelle, le taoiste Tch’enn Toan
(mort vers 990) reprit l’examen de la cosmologie de Lao-tzeu et de l’antique
science chinoise des nombres (I-king). Le résultat fut une philosophie athée
puisqu’elle ne recourt à rien qui fut avant le T’ai Ki, l’être primordial de
Lao-tzeu, et matérialiste puisqu’elle attribue à une formule (Li, la norme
immanente dans l’être primordial), l’énamation de tout ce qui est hors de
cet être primordial. Ces spéculations de Tch’enn-toan étaient purement
philosophiques et abstrayaient complètement de toute religion. -- Wieger, Histoire des croyances …,
p.657 et suiv.
Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et
philosophie chrétienne, p.76
… Cette philosophie s’incarne dans la
personnalité de Tchou Hi (1130-1200)
Sagesse chinoise et philosophie chrétienne,
p.77
… Il (Tchou Hi) se posa le problème de la
Cause première et des Causes finales, mais ce problème il ne le posa que
pour refuser de le résoudre, et il n’ouvrit la porte que pour la refermer…
Sans doute il admit la notion d’un T’ai Ki, premier principe spirituel,
cause du monde et souverain bien; mais ce fut pour plonger aussitôt ce
premier principe dans la nature, pour l’emprisonner définitivement au sein
de la matière… (Ib.78)
… Pas de Dieu, pas de Souverain, pas de Juge,
pas de Providence, quoi qu’en aient dit les anciens…
Le T’ai Ki
et le Li conduisent à l’Athéisme. --
Du Halde, Description… de l’Empire Chinois, Tome 3, p.38.
Et comme ces
deux mots Tai ki signifient grand pole, ou grand faîte: ils disent qu’il
est, par rapport à tous les Êtres, ce qu’est le faýte par rapport à un
édifice; qu’il sert à unir ensemble, et à conserver toutes les parties de
l’univers, de même que le faýte assemble et soutient toutes les parties qui
composent le toit d’un édifice.
Ailleurs ils le comparent à la racine de
l’arbre, et à l’essieu d’un chariot: Ils l’appelle le pivot, sur lequel tout
roule; la base, la colonne, et le fondement de toutes choses. Ce n’est pas,
disent ils, un Être chimérique, qui soit semblable aux vides de la secte des
Bonzes: c’est un être réel, qui existe véritablement, et c’est ce qu’on
conçoit qui existe avant toutes choses…
Je croirais
volontiers que beaucoup de philosophes orientaux ne diffèrent point des
platoniciens et des stoiciens qui ont considéré Dieu comme âme du monde ou
la nature universelle immanente aux choses… -- Sagesse chinoise et philosophie chrétienne,
p.158. Les Chinois appelle la Li (par excellence)
l’être, la Substance, l’Entité. Cette Substance selon eux est infinie,
éternelle, incrée, incorruptible, sans principe et sans fin. Elle n’est pas
seulement le principe physique du ciel, de la terre et des autres
choses corporelles; mais encore «le principe moral» des vertus, des
habitudes et des autres coses spirituelles…. Elle est invisible, elle est
parfaite dans son être au souverain degré,… elle est même toute sorte de
perfections… Ils appelle la Li «La Nature» des choses, je crois que c’est
comme nous disons que Dieu est la «Nature naturante». Ib. p.161.
La norme
s’appelle aussi T’ai-ki, le grand axe, parce qu’il meut fout dans l’univers.
Maître Tcheou lui a encore ajouté l’épithète de Ou-ki (Vô cực) pour exprimer
sa nature incorporelle. C’est l’impalpable moteur qui ne tombe pas sous les
sens. --
L. Wieger, Textes philosophiques, Tom 1, p.180.
Xin đọc thêm Sagesse chinoise et
philosophie chrétienne, p.116, có một đoạn dài ghi lại 2 ý kiến tương phản
về Thái Cực. Một bên là các giáo sĩ lấy lịch sử chứng minh rằng trong dĩ
vãng không hề bao giờ có đền thờ Thái Cực mà chỉ có đền thờ Trời. Như vậy
Thái Cực không phải là Trời. Một bên là các tiến sĩ Công giáo Trung Hoa chủ
trương ngược lại và cho rằng họ hiểu tinh thần các sách Trung Hoa hơn người
Âu Châu.
Il y a eu un
certain David de Dinant sous le règne des scolastiques qui soutenait que
Dieu était la matière première des choses. On pourrait dire quelque
chose semblable de Spinoza, qui paraîtsoutenir que les créatures ne sont que
des modifications de Dieu. -- Sagesse chinoise et philosophie chrétienne,
p.161.
Xem Apocalypse 1,8 và
18 Evangile Jean, Prologue, 3,4.
Cf. G.
Pauthier, Les Livres sacrés de l’Orient, Introduction pp. vii et ix:
«Dans l’histoire comme dans la poésie, dans les manifestations religieuses
comme dans les spéculations philosophique l’Orient est l’antécédent de
l’Occident…
Nous devons donc chercher à le connaître pour
nous bien connaître nous-mêmes… A mesure que les connaissances sur l’Orient
se développeront, on verra se révéler, comme un monde nouveau, une
civilisation merveilleuse que l’antiquité n’avait pas même soupçonnée. On
sera surpris de voir ce qu’étaient les Anciens en comparaison de ces vieux
peuples de l’Orient, et on sera de plus en plus frappé de la vérité de cette
allocution d’un prêtre d’Egypte à Solon (conservée par Platon dans son
Timée): «O Athéniens, vous n’êtes que des enfants ! Vous ne connaissez rien
de ce qui est plus ancien que vous; remplis de votre propre excellence et de
celle de votre nation, vous ignorez tout ce qui vous a précédés. Vous croyez
que ce n’est qu’avec vous et avec votre ville que le monde a commencé
d’exister…» Nous ne craignons pas d’affirmer que l’étude des civilisations
de l’Orient est désormais d’une nécessité absolue pour quiconque veut écrire
sur les origines et l’affiliation des peuples, des langues, des arts, des
religions, de la morale, de la philosophie, en un mot sur l’histoire tout
entière de l’humanité…
Nous ne
craindrons pas d’affirmer encore que la plus grande partie des livres
publiés depuis la découverte de l’imprimerie (et ils sont nombreux), dont
les sujets se rapportent plus ou moins directement à ceux qui sont énumérés
cidessus, sont à refaire, parce qu’ils partent tous de données plus ou moins
inexactes, de bases plus ou moin fragiles, de systèmes plus ou moin faux,
parce qu’ils n’ont tenu aucun compte de ces importantes civilisations qui
ont eu et ont encore une grande influence sur le développement général de
l’humanité. C’est comme si tous ceux qui ont créé des systèmes d’astronomie
avaient négligé ou dédaigné de tenir compte des astres les plus rayonnants
du système du monde. -- Cf Cheng TienHsi, La Chine, oeuvre de Confucius, p.410.
|