CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO
GIÁO
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Hôm nay tôi rất vinh hạnh được trình bày cùng quý vị đề tài: QUI NGUYÊN
PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO.
Được làm công việc này để tấu khúc hoà ca cùng quý vị đại diện cho nhiều
tôn giáo có mặt nơi đây, và cũng là để đóng góp trong muôn một vào công
trình chung, đi tìm một chân lý đại đồng, tôi rất hứng khởi và liên
tưởng đến mấy lời đức Khổng xưa đã nói trong Hệ từ hạ (chương 5).
Thiên hạ hà tư hà lự
天 下
何 思
何 慮
Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ
天 下
同 歸
而 殊
途
Nhất trí, nhi bách lự
一 致
而 百
慮
Thiên hạ hà tư hà lự !
天 下
何 思
何 慮
Tạm dịch:
Dạy rằng: muôn sự trên đời
Cần chi lo nghĩ rối bời mà chi
Muôn đường nhưng vẫn đồng qui
Trăm chiều lo lắng rút về một căn
Cần gì mà phải băn khoăn
Cần gì mà
phải bận tâm lo lường.
Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ lần lượt trình bày cùng quí vị những
đóng góp của Tứ Thư, Ngũ Kinh vào công trình đi tìm Thượng Đế tiềm ẩn
đáy lòng, tức là vào công trình xây đắp con đường Qui Nguyên Phản Bản,
lý tưởng theo thánh hiền Nho giáo.
Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ dùng TÂM ĐIỂM và vòng TRÒN bên ngoài
với hai chiều thuận nghịch để trình bày những tư tưởng then chốt của Tứ
Thư, Ngũ kinh, đồng thời cũng để minh định rằng con đường quy nguyên
phản bản cuả Nho giáo chính là con đường hồi hướng, con đường quay về
Tâm để mà tìm Đạo, tìm Trời hoặc quay về gốc, trở về nguồn.

Nhìn vào đồ hình này, ta sẽ thấy ngay chủ trương chính yếu của Nho giáo
có thể tóm tắt như sau:
1. Thái Cực, hay ĐẠO hay TRỜI hay THƯỢNG ĐẾ là bản thể tuyệt đối, là căn
nguyên duy nhất, sinh suất ra quần sinh vũ trụ, vừa siêu suất
(transcendent), vừa ẩn tàng (immanent) trong lòng sâu, trong TÂM ĐIỂM
vạn hữu, nhân quần, để làm trục cốt, căn cơ, âm thầm chỉ huy, hướng dẫn
mọi cuộc biến thiên, tiến thoái.
2. Vạn
hữu, vạn tượng, vũ trụ, quần sinh, những hình tướng biến thiên, những
công dụng biến thiên đa tạp cuả một bản thể tuyệt đối, của một Thái Cực
hợp lại thành một vòng biến thiên Sinh Tử. Những Vòng Tròn biến thiên
bên ngoài, tuy là biến thiên sinh tử, nhưng vẫn có vinh hạnh mang trong
lòng mình một căn cơ, một nguồn sinh HẰNG CỬU, BẤT DIỆT.
3. Thượng
Đế hay Thái Cực, ở nơi tâm điểm với vạn tượng, vạn hữu hay giữa các quẻ
ở vòng tròn bên ngoài có liên lạc mật thiết với nhau:
- Từ tâm điểm, từ
Thượng
Đế ra vòng tròn bên ngoài hay ra vạn tượng vạn hữu bên ngoài là chiều
suy thoái, phóng phát ly tán, phân kỳ, hướng ngoại. Đó là chiều NHẤT TÁN
VẠN, đó là chiều sinh Nhân sinh Vật.
- Từ TÂM ĐIỂM chuyển dịch, biến hoá ra vòng bên ngoài, rồi lại từ vòng
bên ngoài chuyển dịch biến hoá quay trở về Tâm Điểm vẽ thành một vòng
CHU DỊCH, hay một vòng biến hoá ĐẠI TUẦN HOÀN, hay ĐẠI CHU THIÊN.
Thế tức là VẠN VẬT TUẦN HOÀN CHUNG NHI PHỤC THỦY, để thực hiện điều Đại
Huyền Kỳ của Trời Đất là Thủy Chung Như Nhất, mà Âu Châu gọi là Alpha =
Omega (Alpha là đầu, là Thủy, vì chữ Alpha là chữ đầu trong mẫu tự Hi
Lạp, Omega là chữ cuối cùng.)
- Kinh Dịch gọi là:
Nguyên Thuỷ Yếu Chung
原 始
要 終
(Dịch, Hệ Từ Hạ, chương IX)
Nguyên Thuỷ Phản Chung
原 始
反 終
(Dịch, Hệ Từ Thượng, chương IV)
- Thiệu Khang Tiết viết: «Vạn Vật tòng trung nhi khởi, tòng trung nhi
chung.»
- Văn Đạo Tử viết: «Mới
đầu từ trong thuận hành mà sinh, cuối cùng lại trở lại để ẩn tàng tại
trung điểm tại trung Hoàng Thái Cực tìm lại được Bản Lai Diện Mục của
mình. »
- Nguyễn Ấn Trường, tác
giả quyển Tạo Hoá Thông cho rằng: «Thái Cực là Một vậy. Vạn vật bắt đầu
từ một và kết thúc ở Một. Trang Tử gọi thế là: «Xuất cơ, nhập cơ.»
Cuộc biến dịch, tuần hoàn trong vũ trụ như vậy thực là có nhịp điệu,
tiết tấu, chiều hướng, giai trình. Ta có thể theo dõi sự diễn biến ấy từ
đầu đến đuôi được. Tất cả chỉ là một Nguồn sinh hoá diễn biến dần dà từ
trung tâm ra tới các tầng lớp bên ngoài, rồi lại chuyển hoá, xoay mình
băng qua các lớp biến thiên từ ngoài vào trong, cho tới Trung Tâm Nguyên
Thủy, tạo thành một vòng biến thiên, một vòng sinh hoá có lớp lang, tiết
tấu mạch lạc, có nguyên ủy thủy chung.
Vòng đại tuần hoàn này của vũ trụ chẳng qua cũng như tình non nước lúc
tan lúc hợp, mà
Tản Đà đã ngâm vịnh bằng những lời thơ thắm thiết như sau:
Cho dù sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa.
Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non, nước nước, chưa nguôi lời thề.
4- Trông vào đồ hình trên (tâm điểm và hình tròn), ta thấy về phương
diện nhân sinh quan, Nho giáo chủ trương con đường lý tưởng của nhân
loại có hai chiều, hai mặt khác nhau:
a. Một chiều hướng ngoại, cốt phục vụ nhân sinh, điểm tô cho ngoại cảnh,
cho gia đình, cho quốc gia, xã hội, cho xác thân, cho vấn đề cơm áo, vật
chất. Dịch Kinh gọi thế là chiều Âm.
b. Một chiều hướng nội, cốt để tìm cho ra tinh hoa cốt cách con người,
tìm cho ra con đường tâm linh, hướng nội để quy căn, phản bản, tìm cho
ra Đạo, ra Trời tiềm ẩn nơi lòng mình. Dịch kinh gọi thế là chiều Dương.
Hai chiều hướng Đạo, Đời nói trên rất là quan yếu.
Kinh Dịch nơi chương 5 Hệ Từ Thượng viết: «Nhất âm, Nhất dương chi vị
Đạo. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã.»
一
陰 一
陽 之
謂 道 .
繼 之
者 善
也 , 成
之 者
性 也.
Tạm dịch: Một âm một dương là đạo. Theo được là tốt, thành toàn được là
thực hiện được Thiên tính mình.
Dĩ nhiên trong bài thuyết trình này, tôi sẽ không đề cập đến chiều Âm,
chiều phục vụ đời sống gian trần, chiều đem lại phú cường thái thịnh cho
giang sơn đất nước, vì đó không phaỉ là chủ đề nghiên cứu của chúng ta
hiện nay. Tôi sẽ dùng Tứ thư, Ngũ kinh để đề cập đến chiều Dương, đến
một vấn đề mà nhiều
người
tưởng là sở đoản cuả Nho giáo, đó là con đường Đạo đức tâm linh, con
đường qui nguyên phản bản.
Những đóng góp của kinh Dịch
Kinh Dịch cho rằng:
- Học Dịch cốt là tìm cho ra tâm điểm của bất dịch, ở giữa lòng mọi biến
thiên. (Lôi phong hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương. (xem Đại Tượng
quẻ Hằng)
- Học Dịch cốt là để tìm cho ra Căn Cơ, Vĩnh Cửu, Tuyệt Đối, tiềm ẩn sẵn
trong lòng mình, trở về được CHÍNH VỊ, THIÊN VỊ, sống hạnh phúc, thanh
sảng. Để diễn tả ý ấy:
- Văn
ngôn hào lục ngũ, quẻ Khôn có mấy câu bất hủ như sau: «Quân tử Hoàng
Trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi,
phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã.»
君 子 黃 中 通 理
,
正 位 居 體
,
美 在 其 中 而 暢 於 四 支
,
發 於 事 業
,
美 之 至 也.
Dịch:
Hiền nhân thông lý Trung Hoàng
Tìm nơi chính vị mà an thân mình,
Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,
Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều,
Phát ra sự nghiệp cao siêu,
Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.
- Học Dịch cốt là CÙNG LÝ, TẬN TÍNH, CHÍ MỆNH. (Thuyết Quái, chương I)
Cùng lý: Là hiểu biết rành rẽ về nguyên lý sự vật.
Tận tính: Là hiểu biết rành rẽ về Bản Tính cao cả của con người.
Chí mệnh: Là thực hiện được định mệnh sang cả của con người, trở thành
thánh nhân sáng láng như hai vừng nhật nguyệt, cao xa như trời đất, uyển
chuyển tiết tấu như bốn mùa trời. (Phù Đại nhân giả dữ Thiên địa hợp kỳ
đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự, dữ qủi thần hợp
kỳ cát hung). (Xem Kiền quái, Văn ngôn, hào cửu ngũ).
Văn Đạo Tử, gần đây cũng chủ trương rằng học Dịch cốt là để tìm cho ra
căn cốt tinh hoa của mình, tìm cho ra định mệnh sang cả của mình, tìm
cho ra lẽ phản bản hoàn nguyên, chứ không phải vụ chuyện bói toán, sấm
vĩ. (xem Văn Đạo Tử, Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, trang 9, quyển I. - Xem
Dịch Học Nhập Môn của tác giả).
Dịch Kinh dạy chúng ta phải (Tẩy Tâm, thoái tàng ư mật). Hệ Từ
Thượng chương XI: «Tẩy rửa tâm hồn, rút lui về nơi tâm linh ẩn náu.»
Dịch Kinh dạy cho chúng ta biết lẽ đời, lẽ Đạo hết sức là rõ ràng:
Thuận thì sinh nhân, sinh vật,
Nghịch thì sinh Thánh,
sinh thần.
Tán thời sinh nhân, sinh vật (THÁI CỰC
―>
ÂM + DƯƠNG)
Tụ thì sinh thánh, sinh thần (ÂM + DƯƠNG
―>
THÁI CỰC)
KHÍ + THẦN
―>
ĐƠN
NHÂN
+THIÊN ―>
ĐẠO, NHẤT.
Và như
vậy: Nương theo dịch lý, Chúng ta có thể khẳng định rằng: Không biết
hướùng nội, không biết hướng tâm, không biết thu thần định trí, suốt đời
hướng ngoại, để cho tâm thần tản lạc vào những công việc vụn vặt, bên
ngoài thì không thể nào thành thánh, hiền, tiên, phật được.
Thái Hư
thị cũng đã nói: «Đơn Đạo, thánh công, không ngoài công trình hoàn
phản.»
Những đóng góp của Kinh Thư
Kinh Thư
nơi thiên Đại Vũ Mô, tiết 15, cho ta khẩu quyết để thành thánh hiền:
Nhân tâm
duy nguy,
人 心 惟 危
Đạo tâm
duy vi,
道 心 惟 微
Duy tinh,
duy nhất,
惟 精 惟 一
Doãn
chấp, quyết trung. 允 執
厥 中
Dịch:
Lòng của
trời siêu vi, huyền ảo,
Lòng con
người điên đảo, ngã nghiêng,
Tinh
ròng, chuyên nhất ngày đêm,
Ra công,
ra sức, giữ nguyên lòng Trời.
Những đóng góp của Kinh Thi
Nơi thiên
Đại Nhã đã cho chúng ta thấy cả một hoạt cảnh của dân chúng Trung Hoa
thời cổ sơ, với niềm tín ngưỡng rất lạ lùng.
Thủa xa
xăm ấy, dân chúng như dây dưa mọc lan man, chưa có nhà cửa sống trong
hang cốc. (Kinh Thi, chương Đại minh, Miên miên qua diệt)
Họ tin
sùng Thượng Đế là tin rằng Thượng Đế sống rất gần gũi với con người.
Trong cuộc giao tranh quyết liệt vơí binh sĩ vua Trụ ở Mục Dã, Võ Vương
muốn gây tinh thần cho quân sĩ mình đã kêu lên: Thượng Đế ở với ba quân,
ba quân đừng nghi ngại.
Kinh Thi
viết:
Quân
Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,
Một rừng
người chật cả sa tràng,
Cho ba
quân thêm dạ sắt gan vàng,
Võ Vương
kêu: Thượng Đế ở cùng ta đó,
Ba quân
hãy vững lòng, vững dạ.
Lời kêu
gọi đó làm cho binh sĩ nhà Châu, hứng khởi, ào lên đánh tan quân Thương
Ân trong có một buổi sáng.
Kinh Thi
viết thêm:
Nơi Mục
Dã mênh mang rộng rãi,
Xe bạch
đàn chói chói chang chang,
Ngựa tứ
nguyên phau phau đẹp rỡ ràng,
Khương
thượng phụ trông oai phong lẫm lẫm,
Ngài như
chim ưng xoè tung đôi cánh,
Giúp Võ
Vương thế mạnh xiết bao,
Cả phá
Thương, ba quân tiến ào ào,
Sau một
sáng, trời thanh quang trở lại.
Thời buổi
thô sơ ấy, nhân loại đã tin rằng Trời từ đáy thẳm lòng sâu tâm hồn,
chiếu diệu ánh sáng muôn trùng ra để làm khuôn phép mẫu mực, để ra mệnh
lệnh. Các bậc vương giả, hiền nhân thời ấy cố sống sao đức hạnh tuyệt
vời, để kết hợp với Trời, để có thể nên vẻ sáng của Trời như Văn Vương.
Họ mong muốn được được đức hạnh như Trời (dữ Thiên, đồng đức).
Hễ thấy
ai:
Đức sáng
quắc sáng choang ở dưới,
Họ liền
biết:
Mệnh hiển
dương, chói lọi ở trên.
Thời buổi
thô sơ ấy, các bậc thánh hiền, vương giả đều tin rằng có Trời ngự trị
trong lòng mình. Văn Vương nói:
Chẳng
thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm,
Chẳng phải
long đong nhưng vẫn giữ được.
Văn Vương
lên tới trình độ đức hạnh siêu việt, nên như vẻ sáng của Thượng Đế, vì
thế goị là Văn Vương, ý nói Thượng Đế là chất mà ngài là Văn, là vẻ sáng
Trời được phát huy ra.
Kinh Thi
viết:
Việc Trời
chẳng tiếng, chẳng tăm,
Nên dùng
dạng thức vua Văn hiển hình,
Cho muôn
dân thấy mà tin.
Kinh Thi
viết thêm:
Văn Vương
trọn một niềm kính nể,
Làm chói
chang Thượng Đế ra ngoài,
Muôn
nghìn phúc lộc chiêu lai,
Một lòng
nhân đức chẳng phai lòng vàng.
Thời buổi
thô sơ ấy, dân chúng quan niệm rằng giữ vẹn đạo Trời, ấy là nối chí tổ
tiên, ấy là hiếu kính. Mà giữ vẹn đạo Trời chính là sống một cuộc đời
vẹn hảo, phối kết tất giao với Thượng Đế.
Kinh Thi
viết:
Muốn nhớ
tới tổ tiên khi trước,
Hãy gắng
công tích đức tu thân,
Mệnh trời
phối hiệp vào thân,
Muôn ngàn
phước lộc xa gần chiêu lai,
Thủa nhà
Ân còn thời thịnh trị,
Đã từng
Thượng Đế tất giao,
Gương nhà
Ân hãy soi vào,
Mệnh Trời
cao cả lẽ nào dễ đâu.
Kinh Thi
viết thêm:
Mệnh Trời
ấy há đâu có dễ
Muốn cho
ta đừng kể tư thân,
Biểu dương
phóng phát thiện chân.
Tóm lại
thời buổi ấy, những hiền nhân quân tử đã thông hiểu lẽ «Thiên Nhân tương
dữ»
天 人 相 與,
tình Trời người cá nước duyên ưa, thiên ý, nhân tâm hoà hợp. Trời người
cùng tấu khúc nhạc hoà hài.
Kinh Thi
viết:
Trời xanh
dẫn dắt chúng dân,
Như là
tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,
Trời,
Người, đôi ngọc chương khuê,
Bên cho,
bên lấy, đề huề, xiết bao,
Tay cầm,
tay giắt, khéo sao,
Trời xanh,
dẫn dắt dân nào khó chi.
Những đóng góp của Kinh Lễ
Xuyên qua
Kinh Lễ, ta thấy Nho giáo chủ trương:
Thời nào
cũng như thời nào, con người sinh ra ở đời, không thể tự do muốn làm gì
thì làm, mà phải tuân theo các định luật tự nhiên, các định luật sinh
lý, tâm lý, nhân sinh, các định luật giao tế, xã hội. Tuân theo các định
luật thiên nhiên ấy, ta mới có thể tạo cho mình một đời sống lý sự, đẹp,
tươi vui, tạo cho mọi người và xã hội an vui, hoà hợp. Đó là điều kiện
căn bản để tiến tới Chân, Thiện Mỹ.
Những
định luật tự nhiên ấy đã được gắn liền ngay vào cơ cấu, ngay vào bản
chất muôn loài, muôn vật, đã được gắn liền vào mọi động tác, mọi hành
vi, mọi biến hoá để định thế nào là hay, là phải.
Nhưng,
muốn tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy không phải là chuyện dễ.
Ta có thể
tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy hoặc bằng trực giác, hoặc bằng
phương pháp loại suy, hoặc bằng cách khảo sát lại lịch sử, quan sát hiện
tại, hiện tình, hay dùng Dịch Lý mà suy diễn ra. Thế tức là: Muốn tìm ra
những định luật thiên nhiên, phải hiểu vật, hiểu người, biết nay, biết
xưa, khảo sát lại hiến chương của đời trước, tham khảo lại sự thành bại
đời nay. (Bác vật, Thông nhân, tri kim, ôn cổ, khảo tiên đại chi hiến
chương, tham đương thời chi đắc thất.
博 物 通 人
,
知 今 温 古
,
考 先 代 之 憲 章
,
參 當 時 之 得 失
(Lễ
ký chính nghĩa, tựa, tr. I. Xem Tống Bản Thập Tam Kinh, Lễ Ký).
Nhận định
trên rất quan trọng về phương diện đạo giáo, về phương diện tu thân,
hoàn nguyên phản bản, vì lẽ nó xác định rằng: ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN
chính là LUẬT TRỜI. Luật Trời ấy đã được ghi tạc ngay trong LƯƠNG TÂM
con người, trong tâm khảm con người.
Những
định luật gì không phải là thiên nhiên đều là nhân vi, nhân tạo, và
không thể nào đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, Chân, Thiện, Mỹ,
thật sự cho hoàn vũ.
Chính vì
vậy mà nếu ta muốn qui nguyên phản bản mà lại phóng ngọai, mà hưóng
ngoại tìm cầu, thì chẳng khác nào mò trăng đáy nước, bắt cá ngọn cây.
Những đóng góp của kinh Xuân Thu
Kinh Xuân
Thu, theo Đổng Trọng Thư, đưa ra hai ý niệm triết lý và đạo giáo sau
đây:
- Trời
Người có quan hệ mật thiết với nhau,
- Con
người đúng với danh nghĩa của nó, phải toàn thiện, hoàn hảo như Trời.
Đổng
Trọng Thư cho rằng sách Xuân Thu cốt là để xiển minh cái quan niệm THIÊN
NHÂN TƯƠNG DỮ, Nghĩa là Trời và Người có quan hệ mật thiết với nhau.
Trời là Tổ của vạn vật, là tổ của con người. (Xem Trần Trọng Kim, Nho
giáo, quyển II, tr. 35).
Cho nên,
khi ta mới sanh, chưa phải là người, vì con người xứng đáng với danh
hiệu nó phải hoàn toàn như Trời. (Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển II,
tr. 35.)
Thế tức
là, trong con người đã sẵn có Thiên Chân, Thiên tính, và đã sẵn có mầm
mộng hoàn thiện. Con người có bổn phận làm triển dương mầm mộng hoàn
thiện ấy, cho tới tinh vi cao đại. Chính trị, có bổn phận hướng dẫn,
giáo hoá dân, thành toàn sứ mệnh cao cả ấy.
Những đóng góp của sách Đại Học
Nho giáo
trước sau vẫn chủ trương rằng: Trời chính là căn bản, là gốc gác con
người. Cái gốc gác, căn bản ấy lại tiềm ẩn, sâu xa, trong đáy lòng nhân
loại, để làm Bản tính nhân quần.
Bản tính
Trời, ấy là Gốc, mọi việc khác như tâm tư, thân xác, gia đình, quốc gia,
xã hội, thiên hạ, sự vật, v.v... là thân là cành, là ngọn. Không biết
được gốc, làm sao mà trị được ngọn, không hiểu được Trời, làm sao hiểu
nổi người. (Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên.
思 知 人
,
不 可 以 不 知 天
(Trung Dung, chương XX.)
Cho nên
Đại Học chủ trương rằng người quân tử phải cố gắng học hỏi, mài miệt suy
tư, để tìm cho ra cái khuôn Trời, cái Gốc Trời nơi mình (Cách vật).
Đó là cái học cao siêu nhất, rốt ráo nhất (Trí tri) rồi ra mới có thể
«chính tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.»
Tất cả
chủ trương trên, đã được trình bày ngay ở đầu sách Đại Học.
Đại Học
có mục phiêu rõ rệt,
Đuốc
lương tâm cương quyết phát huy,
Dạy dân
lối sống tân kỳ,
Chưa nơi
hoàn thiện còn đi chưa ngừng,
Có mục
phiêu rồi lòng sẽ định,
Lòng
định rồi, nhẹ gánh lo toan,
Hết lo,
lòng sẽ bình an,
Bình an,
tâm trí rộng đàng xét suy,
Suy xét
rộng, tinh vi thấu trọn,
Thấu sự
đời, ngành ngọn đầu đuôi,
Trước sau
đã rõ khúc nhôi,
Thế là
gần Đạo, gần Trời còn chi,
Muốn Đức,
sáng truyền đi thiên hạ,
Người
xưa, lo cải hoá dân mình,
Trị dân,
trước trị gia đình,
Gia đình
muốn trị, sửa mình trước tiên,
Dày công
học vấn sẽ hay KHUÔN TRỜI.
Hay Khuôn
Trời, ắt thôi thấu triệt,
Thấu
triệt rồi ý thiệt lòng ngay,
Lòng ngay
ta sẽ hoá hay,
Ta hay,
gia đạo mỗi ngày một yên,
Nhà đã
yên, nước liền thịnh trị,
Nước trị
bình, bốn bể bình an,
Từ vua
cho tới dân gian,
Tu thân,
một mực lấy làm căn cơ. (Đại Học, I).
Những đóng góp của sách Luận Ngữ
Xuyên qua
đời sống đức Khổng, xuyên qua tâm tư, ý nguyện, xuyên qua những lời
giảng giáo của đức Khổng trong Luận Ngữ, ta sẽ rút tỉa ra được những bài
học sau đây:
1. Con
người phải có niềm tin vững mạnh về định mệnh sang cả của mình. Khi bị
vây ở đất Khuông, đức Khổng đã nói: «Văn Vương đã thác rồi, vẻ sáng ấy
chẳng ở lại nơi ta sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì khi Văn
Vương đã thác, chẳng có ban nó cho ta. Bằng Trời chưa muốn mất vẻ sáng
ấy, thì người đất Khuông làm được gì ta (Luận Ngữ, IX, 5)
2. Người
quân tử phải biết lẽ: Nhất quán Của Trời Đất.
Đức Khổng
nói: «Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi.»
吾 道 一 以 貫 之
(Luận
Ngữ, IV, 15).
Thế tức
là có thể dùng chữ Nhất, mà tổng hợp, mà quán xuyến hết cả đạo Nho.
Nhất, như
trên đã trình bày: là căn nguyên muôn loài, muôn vật,
Nhất
là nguồn gốc mọi biến hoá.
Nhất
là cùng đích muôn loài.
Con
người từ Nhất từ Trời mà ra, chung cuộc lại trở về phối hợp với Nhất với
Trời.
Đó chính
là cái đạo Phối Thiên, đó chính là Trung Đạo (Luận
Ngữ,
XIII, 21) đó chính là Thiên Đạo, là cái Đạo mà sáng được nghe, chiều
chết cũng cam:
«Triêu văn Đạo, tịch tử khả hĩ.»
朝 聞 道
,
夕 死 可 矣
(Luận
Ngữ,
IV, 8)
3. Người
đạo hạnh thực sự chỉ cần sống thuận thiên lý.
Nghe,
nhìn, nói, làm, luôn luôn phù hợp với định luật tự nhiên của đất trời.
4. Người
đạo hạnh thực sự phải biến đời mình thành một bài kinh trường thiên. Đó
chính là câu «Khâu chi đảo cửu hĩ»
丘 之 禱 久 矣
của đức
Khổng (Luận
Ngữ,
VII, 34)
5. Người
hành đạo thực sự phải sống phối kết với Trời, phải bắt chước Trời mà
hành sự.
Đức Khổng
nói: «Ta muốn thôi không nói nữa.» Tử Cống nói: «Nếu thày chẳng nói, bọn
đệ tử chúng tôi làm sao đem lời dạy của thày mà truyền lại đời sau cho
được?» Đức Khổng đáp: «Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn vần xoay, vạn
vật luôn sinh hoá. Trời có nói gì đâu?» (Luận
Ngữ,
XVII,
18).
6. Người
đạo hạnh thực sự sẽ đạt tới tứ tuyệt như Khổng tử. (Luận
Ngữ,
IX, 4).
Vô ý
毋 意:
Không còn tình ý riêng tây.
Vô tất
毋 必:
Không còn bị ngọai cảnh gò bó.
Vô cố
毋 固:
Không cố chấp, mà cởi mở, mà khoan quãng, hoà đồng.
Vô ngã
毋 我:
Không còn cái tiểu ngã, không còn cái mình nhỏ nhoi ti tiện, mà hoàn
toàn cao minh phối thiên
高 明 配 天,
bác hậu phối địa.
博 厚 配 地
(Xem
Trung Dung, chương XXVI)
Những đóng góp của sách Mạnh Tử
Mạnh tử
là người đóng góp khá nhiều vào công trình khám phá cho ra con đường Qui
nguyên phản bản của đạo Nho.
1. Ông
dứt khoát chủ trương phải quay về tâm mà tìm đạo, tìm Trời. Nơi chương
Tận tâm thượng ông viết:
Cả vạn
vật ở trong ta đó,
Quay về
ta, ta cố tinh thành.
Kiện
toàn, hoàn thiện tinh anh,
Vui nào
hơn được vui mình đang vui.
2. Ông
cho rằng trong thâm tâm ta đã sẵn có con đường đưa tới Đạo tới Trời,
nhưng con đường ấy đã bị lau lách dục tình vùi lấp mất. (Kim mao tắc tử
chi tâm hĩ.
今 茅 塞 子 之 心 矣.
Mạnh Tử, Tận Tâm Chương Cú Hạ.)
3. Ông
khuyên mọi người thu hồi con tim phóng đãng luân lạc nơi ngoại cảnh trở
về: «Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ.»
學 問 之 道 無 他
,
求 其 放 心 而 已 矣
(Mạnh Tử,
Cáo Tử, chương cú thượng, câu II.)
4. Ông
chủ trương rằng: Đi sâu về phía tâm linh, sẽ tìm ra được Thiên tính, sẽ
tìm thấy Thượng Đế tiềm ẩn sẵn trong lòng con người. Nơi chương Tận Tâm
Thượng ông viết:
Thấu triệt lòng, sẽ hay biết tính,
Hay biết tính, nhất định
biết Trời.
(Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã.
Tri kỳ tính, tắc tri thiên hĩ.)
5. Ông cho rằng: Bảo toàn được tinh hoa cốt cách con người, bảo toàn
được thiên tính, đó là chân đạo, đó là cách phụng sự thượng đế tốt đẹp
nhất. Ông viết:
Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,
Ấy là giữ đạo, thờ Trời
chẳng sai.
«Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã.»
存 其 心
,
養 其 性
,
所 以 事 天 也
.
6. Vì ông trực giác được rằng Bản thể tuyệt đối, đã tiềm ẩn sẵn trong
đáy lòng con người, vì ông trực giác được rằng Thượng Đế đã tiềm ẩn
trong đáy lòng nhân loại để làm căn cơ gốc gác cho con người để làm
khuôn phép, mẫu mực cho con người, nên ông mạnh dạn chủ trương: BẢN TÍNH
CON NGƯỜI THÌ HOÀN THIỆN (Mạnh Tử, 1)
7. Mạnh Tử cũng là một trong những triết gia Nho giáo đã phân tách được
rằng:
Dưới lớp nhân tâm còn có Thiên tính,
Dưới lớp Nhân dục, còn có Thiên lý làm chủ chốt.
Nhân tâm thời bất toàn,
Thiên tính thời vẹn hảo.
Nhân tâm mới chỉ là mầm mộng cuả sự toàn thiện, mới chỉ gồm có những mối
manh hoàn thiện, như lòng trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi.
Thiên tính mới là sự hoàn
thiện tuyệt vời, gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (Mạnh Tử, 2)
8. Bồi dưỡng nhân tâm, cho
nhân tâm triển dương tới mức độ tuyệt vời của thiê tính, khế hợp được
với thiên tính, đó chính là công trình tu thân mà Mạnh Tử chỉ vẽ cho
chúng ta. (Mạnh Tử, 3)
Những đóng góp của sách Trung Dung
Xưa nay ai cũng công nhận rằng Trung Dung
là tâm pháp của Nho giáo.
Sách bắt đầu bằng chữ Thiên. Từ đó suy diễn ra Tam Đức (NHÂN, TRÍ,
DŨNG), Ngũ Luân (Quân thần, phụ tử, phu phụ, côn đệ, bằng hữu), Cửu kinh
(chín phép trị nước) (Xem Trung Dung, chương I, XX). Sau đó lại dùng Cửu
kinh, Ngũ luân, Tam đức như là những nấc thang thần giúp cho con người
triển dương, tiến hoá đến cùng cực tinh hoa (Trung Dung, 1)[26]
đến Trung Dung, Trung Đạo
[27] đến chỗ kết hợp với Trời mà Trung Dung gọi là Phối
Thiên.
[28] Như vậy sách Trung Dung cũng kết thúc bằng chữ Thiên,
vô thanh,
vô xú.
Sách rất cao siêu, nhưng cũng khó hiểu. Chính vì thế mà chúng ta cũng
nên đặc biệt để tâm khai thác những điều huyền nhiệm mà Trung Dung tàng
trữ bấy lâu, để đóng góp vào công trình đi tìm con đường Qui nguyên phản
bản.
1.
Hai chữ Trung Dung:
Chữ Trung, theo từ nguyên, là một mũi tên bắn trúng hồng tâm. Hội ý tiên
nho, nhất là Trình Tử và Chu Hi, tôi đã giải hai chữ Trung Dung như sau:
Trung
là tâm điểm,
Dung
là hằng cửu, bất biến.
Như trên tôi đã trình bày, trong vòng biến thiên ảo hoá của vũ trụ, vạn
hữu chỉ một tâm điểm bất biến, hằng cửu, ấy là Bản thể tuyệt đối, là
Thái cực, là Đạo, là Trời.
Chính vì thế mà Kinh Dịch đã vẽ Thái cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các
quẻ tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên
vòng tròn bên ngoài, lên vòng biến dịch bên ngoài.
Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên của vạn hữu, nên không hề nghiêng
lệch bên nào. Tâm điểm, vì là cơ cấu, là căn cơ gốc gác môun loài, nên
cũng không dựa nương vào đâu. Chính vì thế mà Trình Tử mới nói: Trung là
Bất Thiên, Bất Ỷ.
Muôn loài, muôn vật biến thiên, ắt phải có một căn do bất biến hằng cửu
làm chủ chốt. Chính vì thế mà Trình Tử giải: DUNG là Bất Dịch.
Thế tức là chỉ với hai chữ TRUNG DUNG, đức Khổng đã vạch ra cho chúng ta
cả một chương trình hành động, cả một con đường giải thoát.
Nghĩa là:
Sống trong muôn ngàn hiện tượng biến thiên, chúng ta phải tìm cho ra căn
cơ bất biến.
Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ làm chủ chốt.
Ở nơi con người ta, có đày dãy mọi hiện tượng biến thiên. Như vậy trong
con người chúng ta, phaỉ có một căn cơ bất biến làm chủ chốt.
Mà như trên đã trình bày, chỉ có trời có Đạo, có Thái cực mới bất biến.
Suy ra: trong ta, chắc chắn phải có Đạo, có Trời, có một nguồn sống siêu
nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt.
Cái gì còn biến thiên thì còn ở trong vòng sanh tử. Cái gì bất biến mới
thoát ra ngoài vòng biến thiên sanh tử. Thế nên, nếu con người muốn
thoát vòng sinh tử, Phải đạt cho được tới TÂM ĐIỂM BẤT BIẾN, đạt tới
TRUNG DUNG.
Đức Phật cũng đã nói: «Hỡi
các tỳ khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp,
vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao giải thoát được cái sinh,
thành, ỷ, tạp.»
Vivekananda cũng đã viết: «Chúng ta trước hết phải đi tìm cho ra một tâm
điểm phát sinh ra mọi bình diện sinh hoạt khác. Khi đã tìm ra được tâm
điểm rồi, chúng ta mới mong tìm ra được một giải pháp. Đó là chương
trình của chúng ta. Tâm điểm ấy ở đâu? Thưa nó ở ngay trong lòng ta. Các
hiền triết cổ thời đã tìm sâu mãi vào tâm con người, cho đến khi khám
phá ra được rằng TÂM KHẢM CON NGƯỜI
CHÍNH LÀ TRUNG TÂM VŨ TRỤ. Tất cả mọi bình diện khác đều xoay quanh tâm
điểm duy nhất ấy, và chỉ từ đó, chúng ta mới tìm ra được giải pháp chung
cho mọi người.»
Văn Đạo Tử cho rằng: TÂM ĐIỂM chính là Thiên Đạo.
Vào được tâm điểm của lòng người, tức là vào được tâm điểm của vòng
Dịch, tức là thoát luân hồi sinh tử, tức là vào được trục pháp luân theo
danh từ của Phật giáo.
Ta hãy nghe Văn Đạo Tử trình bày: «Thiên đạo cư trung lập cực, nên vận
chuyển muôn loài không sai thất, cũng như trong bánh xe, các vành xe và
tai hoa xe vận chuyển không ngừng là nhờ trục xe. Nếu ta giữ vững được
Trung điểm, tận dụng được Thái Cực, thì có thể chuyển vận vạn vật và có
thể góp phần được với trời đất trong công trình hoá dục. Cho nên người
quân tử tu nhân đạo để hợp thiên đạo. Hợp thiên đạo tức là vào được trục
của vòng Dịch, thoát ra ngoài vòng kiểm tỏa của hiện tượng, hỗ trợ muôn
vật mà không tơ vương dính bén muôn vật, xoay chuyển vòng biến Dịch mà
chẳng chuyển dịch với bánh xe biến thiên luân hồi.»
Hoàng Đế nói: «Vũ trụ ở
trong tay, vạn hoá sinh trong mình. Phật nói: Thu bể khơi vào trong sợi
lông, đem núi TU DI lồng vào trong hạt cải, đâu phải là thuật lạ. Bất
quá là các ngài đã nắm được trục của pháp luân. Ôi vi diệu thay, trục
của pháp luân, hỏi mấy ai đã biết? Chẳng rõ được trục mà chỉ biết nói
pháp luân, luôn vận chuyển, thì chóng thì chày cũng bị vận chuyển theo
pháp luân, làm sao thoát vòng sinh tử được?»
Như vậy nếu ta hiểu Trung Dung là Tâm Điểm Bất Biến, Nếu ta đặt hai chữ
Trung Dung vào Tâm điểm vòng tròn, ta sẽ có ngay một chià khoá thần để
mở các chốt then Đạo Giáo, thấu triệt được huyền cơ vũ trụ và con người.
Thực vậy, nếu ta nhận định rằng Tuyệt đối hằng cửu bất biến ở tâm điểm
vòng biến dịch, ta sẽ định ngay được rằng Tuyệt Đối Hằng Cửu ở ngay tâm
điểm, ở ngay Trung Tâm Điểm não bộ ta, vì đầu ta chính là một hình tròn,
vì não bộ ta chứa đựng muôn biến hoá. Lão Giáo gọi trung tâm não bộ là
HUYỀN QUAN KHIẾU, là CỐC THẦN, là NÊ HOÀN. Phật giáo Tây Tạng với lời
chú: Oum Mani Padme Hum đã xác nhận rằng giữa bông hoa sen nghìn
cánh, não bộ con người đã có sẵn ngọc châu viên giác.
Học giả Lilian Silburn,
trong tác phẩm Instant et Cause đã viết: «Tìm ra được chân tâm tương
đương với Brahman Thượng Đế, vừa là tâm điểm của lòng mình, vừa là tâm
điểm của vũ trụ, là một khám phá lớn lao của các vị đạo sĩ Bà La Môn, sự
khám phá này đã dẫn tới sự hình thành cuả bộ Áo Nghĩa Thư.»
2.
Những nét đặc thù của Trung Dung:
a/ Con người với Trời có đồng một bản tính.
Trung Dung với mấy chữ vắn vỏi «Thiên mệnh chi vị Tính»
天 命 之 謂 性
nơi đầu sách đã cho chúng ta thấy rằng: Con người muốn bước vào Thiên
đạo, muốn phản bản hoàn nguyên, trước hết phải có một nhận thức nghiêm
chỉnh về bản thể mình, về bản tính mình. Trung Dung cho rằng bản tính
con người là Thiên tính. Nói nôm na Bản tính con người và bản tính Trời
là một.
Thế tức là sau những bộ mặt nạ hoá trang mà sân khấu đời đã bắt ta
mang, sau những lớp bùn đất thời gian, ngoại cảnh, của những con nguời
thực tại (Le moi empirique), còn đang luân lạc trong chốn hồng trần, còn
có bộ mặt vô cùng xinh đẹp của con người lý tưởng (Le moi idéal) ẩn
khuất ở bên trong. Bộ mặt đó, người Á Đông thường gọi là Bản Lai Diện
Mục.
Từ khi tôi khám phá ra được điều quan trọng này, tôi đã dùng nó như một
kim chỉ nam để tìm cho ra đại Đạo khuất lấp trong những cánh rừng sâu
tôn giáo và triết học trên thế giới.
Gần đây, có dịp đọc quyển
Lịch Đại Cao Tăng Cố Sự, tôi thấy đại sư Đạo Sinh, sống vào thời đại Nam
Bắc triều bên Tàu, đời Lưu Văn Đế (424- 453) Cũng đã có chủ trương y hệt
tôi. Đạo Sinh quả quyết rằng: Nhà Nho gọi là Thiên Mệnh, thì nhà Phật
gọi là Phật tính, mà Phật tính tức là Thiên tính.
Ba La Môn cũng cho rằng: con người chân thực trong chính ta là Atman, là
Brahman, Thượng Đế.
Phật giáo nhất là trong kinh Đại Niết Bàn đã chủ trương rằng: Mọi người
đếu có Phật tính.
Thánh Kinh Công giáo cũng
có một câu làm tôi hết sức sung sướng đó là: Thượng Đế chính là sự sống
của bạn.
Nếu Thượng Đế là sự sống của chúng ta, thì chắc chắn ngài là bản thể của
ta vậy.
Hội nghị Thông thiên học quốc tế họp tại Salzbourg nước Áo, năm 1966,
cũng có những lời tuyên ngôn hết sức nảy lửa. ví dụ:
- Trong ta có một vô cùng.
- Giác ngộ tâm linh sẽ mặc
khải cho thấy yếu tố thần linh duy nhất trong tâm thần mọi người.
- Thời buổi này cần phải
nhận chân rằng trong mọi người có một tàn lửa Thiên Chân, và những khả
năng vô tận, vô biên.
- Tôn giáo xưa cho rằng
Trời và người xa cách nhau, phẩm và chất xa cách nhau. Thông Thiên ngày
nay dạy rằng: Trời Người là Một.
b/ Nhân tâm thuận tòng Thiên tính, Thiên lý thế là
chân đạo
(Suất tính chi vị đạo
率 性 之 謂 道
).
Theo Trung Dung đạo Trời thật chí giản chí dị. Muốn theo đạo Trời, muốn
theo Thiên lý, con người chỉ cần lắng nghe tiếng gọi của lương tâm.
Trung Dung gọi thế là Suất Tính.
Lương tâm luôn luôn dạy ta làm điều cao đại minh chính, luôn luôn dạy ta
Từ Bi Hỉ Xả, coi người như mình, trọng lễ nghĩa, khinh lợi.
Còn tâm tư chúng ta luôn luôn làm những điều tà ngụy, bất trung, bất
chính, ích kỷ, hại nhân, luôn luôn muốn vọng hành, vọng niệm.
Như vậy thuận tòng thiên lý, tức là gạt bỏ những điều tà ngụy, để tiến
tới công chính, từ bỏ mọi điều ti tiện cục cằn để vươn lên tới tinh hoa
cao đại.
Bà H. P Blavastsky, trong
quyển Mật giáo (Doctrine Secrète) đã viết: «Chỉ có nguyên lý tuyệt đối,
bất khả tư nghị, căn nguyên vạn hữu mới đáng có đền thờ và bàn thờ trong
khu đất thiêng liêng và u tịch của long ta. Nguyên lý ấy mình không
thấy, bắt không được, mung lung huyền ảo, nhưng ta vẫn có thể cãm thấy
được qua trung gian tiếng nói thầm lặng của lương tâm. Kẻ nào thờ phượng
Nguyên lý tuyệt đối ấy, phải thờ trong yên lặng và trong sự u tịch
thiêng liêng ấy cuả tâm hồn mình.»
Bà Blavastsky còn viết:
«Atman, Đại ngã [...] sẽ tỏ quyền năng cho kẻ nào có khả năng nghe được
‘tiếng nói thầm lặng’ của lương tâm. Từ thủa ban sơ cho đến thời hiện
đại, không một triết gia chân chính nào mà không mang trong đền đài u
tịch của tâm hồn mình chân lý cao đại và huyền diệu đó. Nếu là trường
hợp người được điểm đạo, thì sự học biết về lương tâm lại trở thành một
khoa học thiêng liêng.»
c/ Trời, luật trời, Đạo trời chẳng hề rời xa con
người một phút giây.
Đọc câu «Đạo dã giả bất khả tu du ly dã»
道 也 者 不 可 須 臾 離 也
nơi đầu sách Trung Dung tôi đã tìm ra được ba nhận định hết sức quan
trọng của người xưa về đạo giáo.
① Một là trời chẳng hề xa con người.
② Hai là luật trời chẳng hề có ở ngoài con người, mà đã được ghi tạc
ngay trong tâm khảm, thâm tâm conngười.
③ Ba là Chân đạo hay là con đường dẫn người tới trời đã có sẵn ngay
trong tâm hồn mỗi một người.
Tôi cho rằng đó là những quan niệm hết sức xác đáng.
① Trời
chẳng hề xa con người.
Nếu trời
là căn cơ gốc gác con người, thì Trời làm sao mà rời xa con người được?.
Chính vì tin rằng Trời chẳng lìa xa mình, nên người quân tử trong đạo
Nho luôn luôn e dè kính cẩn, dẫu là khi ở một mình.
E dè cái
mắt không nhìn,
Tai nghe
không nổi cho nên hãi hùng.
Càng ẩn
náo lại càng hiện rõ,
Càng siêu
vi, càng tỏ sáng nhiều,
Nên dù
chiếc bóng tịch liêu,
Đã là
quân tử chẳng siêu lòng vàng.
(Trung
Dung chương I)
② Luật
Trời chẳng lià xa con người.
Chương
XII Trung Dung viết:
Đạo luôn
gần gũi người đời,
Những ai
lập đạo xa rời chúng dân,
Hiếu kỳ
lập dị là nhầm.
Kinh Thi
viết:
Đẽo cán
rìu có liền bên cán mẫu,
Trông lại
nhìn cố dấu cho in.
Ngắm đi,
ngắm lại liền liền,
Đẽo lui
đẽo tới mắt xem chưa vừa,
Nên người
quân tử, khi lo giáo hoá,
Sửa trị
người sẵn có khuôn người,
Thấy
người giác ngộ thời thôi,
Đã chiều
cải hoá liệu bài ta ngưng.
③ Con
đường từ người dẫn đến Trời đã có sẵn trong tâm thần con người.
Nhận định
này chỉ là một sự suy diễn tự nhiên của quan niệm Trời chẳng xa người đã
đề cập ở nơi trên. Thực vậy đạo chẳng qua là sự tìm ra được Trời ngự trị
trong lòng mình, tìm lại được bản tính thần minh sang cả cuả mình, bắc
được nhịp cầu giữa lòng mình với Thần Trời trong mình, phát quang được
gai góc, lách lau của thất tình, lục dục, phá tan được lớp sương mù dày
đặc của sự ngu si mê vọng. Cho nên con đường trở về Thiên quốc, con
đường quy nguyên phản bản Nho giáo, không thể nào tìm thấy được trên
muôn vạn nẽo đường của trần ai ngọai cảnh, của muôm dặm thinh không mà
chính là đã có sẵn trong tâm thần chúng ta.
Chu Hi
khi bình chương nhất Trung Dung viết:
Tử Tư
nương ý chân truyền,
Trung
Dung hạ bút nói liền duyên do,
Nguồn đạo
ấy phát từ Thượng Đế,
Chẳng đổi
thay, chẳng thể biến rời,
Hoàn toàn
đầy đủ nơi người,
Một giây
một phút chẳng rời khỏi ta.
Rồi bàn
tiếp chi là cần thiết,
Lẽ Dưỡng,
Tồn, Tỉnh, Sát v.v...
Cuối
cùng, tác giả luận bàn, sức thiêng biến hoá thánh thần uy linh.
Những học
giả muốn tìm đạo ấy,
Tìm đáy
lòng sẽ thấy chẳng sai,
Dẹp tan
cám dỗ bên ngoài,
Căn lành
sẵn có đồng thời khuếch sung.
(chương
nhất, lời bình của Chu Hi).
Thông
Thiên học cũng chủ trương phải tìm Đạo, tìm Trời ngay trong lòng mình.
Ông Joy
Mills, trong một bài thuyết trình tại đại hội Thông thiên quốc tế ở
Salzbourg, có trích dẫn một đoạn Upanishad như sau: «Có một ánh sáng
chiếu soi khắp cùng trời đất, đó là ánh sáng chiếu soi trong lòng chúng
ta. Có một nhịp cầu nối liền thời gian và vĩnh cưủ, và nhịp cầu ấy là
Thần con người. Trên cầu ấy, chẳng có ngày đêm, chẳng có lão tử, chẳng
có sầu muộn ưu tư. Một khi đã tìm thấy nhịp cầu ấy, con người sẽ nhìn
thấy rõ tương lai và sẽ khỏi hết thương tích, bệnh tật. Đối với ai đã
vượt được qua cầu ấy, đêm sẽ trở thành như ngày, vì trong thế giới thần
linh, có một ánh sáng vĩnh cửu.»
Đại hội
Thông Thiên ở Salzbourg còn nhận định rằng: «Người ta thấy được Thượng
Đế trong tạo vật Ngài. Ngay trong lòng mình, con người có thể tìm thấy
đời sống Thượng Đế. Về phương diện đạo giáo, sự khám phá này cũng vĩ đại
như sự khám phá ra nguyên tử năng. Nó cho con người quyền lực tinh thần
không bờ bến, cũng như nguyên tử năng đã cho con người một sức mạnh kỳ
diệu.»
d/ Những phương pháp tổng quát để tiến tới Trung
Dung, tới tuyệt điểm tinh hoa.
Sau khi
đã vạch rõ cho con người thấy rằng mình có một căn cơ hết sức sang cả,
đó là Thiên tính, sau khi đã cho con người thấy rằng, Trời và định luật
Trời, con đường đưa về Trời dã có sẵn cả trong tâm, Trung Dung đề ra ba
phương pháp chính yếu để giúp con người tiến tới hoàn thiện.
① Mở mang
trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác. Đó là TRÍ.
② Luôn
luôn thực thi những điều hay, để trở nên hoàn thiện. Đó là NHÂN.
③ Cố gắng
không ngừng để đi đến chỗ tinh vi cao đại. Đó là DŨNG.
Trung
Dung viết:
Muốn
thông thái không ngoài học vấn,
Muốn tu
nhân phải gắng công lao,
Muốn nên
hùng dũng, anh hào,
Hai câu
liêm sỉ ghi vào thâm tâm.
Trí,
Nhân, Dũng, tu thân ấy lý,
Biết tu
thân ắt trị nổi người,
Trị người
hiểu biết khúc nhôi,
Con
thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa. (Trung Dung, XX)
Muốn phát
huy những năng lực nội tại, những đức tính nội tại, con người không cần
phải vào thâm sâu cùng cốc, mà chỉ việc vui sống với mọi hoàn cảnh mình
gặp trên bước đường đời (Trung Dung, XIV), mà chỉ cần kiên gan bền chí,
đừng bán đồ nhi phế (Trung Dung, XI).
e/ Mục đích của con đường phản bản hoàn nguyên là
PHỐI THIÊN.
Sau khi
đã dùi mài học hỏi, suy tư đến mức khai thông được trí huệ, sau khi đã
tha thiết thực thi những điều hay, điều phải đến mức Nhân Dức vẹn toàn,
sau khi đã cố gắng phát huy được những năng lực tinh thần, để có thể
tiến tới mức tinh vi cao đại, đến chỗ chí cao, chí mỹ, chí thành, chí
thiện lúc ấy con người sẽ đạt đích.
Trung
Dung gọi sự đắc đạo, đạt đích là đạt tới Trung Dung. Trung Đạo, là
«Thung dung Trung Đạo», là PHỐI THIÊN, là sống phối kết, hợp nhất với
THƯỢNG ĐẾ.
Trung
Dung phác họa bậc thánh nhân ấy như sau:
Chỉ có
đấng chí thánh trong trần thế,
Mới có
đầy đủ thông minh trí huệ,
Y như thể
có Trời ẩn náo, giáng lâm,
Mới khoan
dung, hoà nhã, ôn thuần,
Y như thể
có dung nhan Trời phất phưởng,
Phấn phát
tự cường, kiên cương, hùng dũng,
Y như là
đã cầm giữ được sức thiêng,
Trang
trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,
Y như
thừa hưởng đôi phân kính cẩn,
Nói năng
văn vẻ, rỡ ràng, cẩn thận,
Y như là
đã chia được phần thông suốt, tinh vi.
Mênh mang
sâu thẳm ứng dụng phải thì
Mênh mang
như khung trời bao la vô hạn,
Sâu thẳm
như vực, muôn trùng sâu thăm thẳm,
Thấy bóng
Ngài dân một dạ kính tôn,
Nghe lời
Ngài dân tin tưởng trọn niềm,
Ngài hành
động muôn dân đều hoan lạc.
Nên thanh
danh Ngài vang lừng Trung quốc,
Vượt biên
cương lan tới các nước ngoài,
Đâu xe có
thể đi, người có thể tới lui,
Đâu có
được trời che, và đất chở,
Đâu còn
có nhật nguyệt hai vầng tở mở,
Đâu có
móc đọng, đâu có sương rơi,
Đâu còn
có dòng máu nóng con người.
Ở nơi đó,
Ngài vẫn được tôn sùng quý báu,
Thế nên
gọi là «CÙNG TRỜI PHỐI NGẪU». (Trung Dung, XXXI)
TỔNG
LUẬN
Trên đây
tôi đã dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh phác họa lại con đường phản bản, hoàn
nguyên. Tôi đã đi vào nhiều chi tiết, viện dẫn nhiều chương cú, để trình
bày cho cặn kẽ các khía cạnh, các giai đọan của con đường đó. Trong khi
làm công việc đó, tôi sợ đã làm tản mạn tâm tư của quý vị. Để đền bù
lại, tôi xin toát lược thực giản dị lập trường và chủ trương của Nho
giáo về vấn đề Qui Nguyên Phản Bản như sau:
Muốn phản
bản hoàn nguyên, phải nhận ra được rằng mình có Thiên tính, mình là dòng
dõi Trời, là những vì thiên tử, những vì con của Thượng Đế luân lạc
xuống cõi hồng trần này, cho nên phải phấn đấu để phục hồi nguyên vị cũ,
trở lại quê hương cũ.
Thứ đến
phải nhận định được rằng Trời hay Đạo chẳng có ở đâu xa, mà đã tiềm ẩn
ngay trong lòng con người. Như vậy liền biết được ngay là muốn tìm Đạo,
tìm Trời phải trở về nơi tâm mà tìm kiếm.
Vì trong
ta có Trời, có thiên tính, cho nên muốn trở về với Trời phải rũ bỏ phàm
tâm, nhân tâm để mặc lấy Thiên tâm, Thiên tính.
Mà nhân
tâm là những gì bất toàn, những gì qui ước, những gì nhân vi nhân tạo,
những gì phản ảnh lại hoàn cảnh lịch sử, điạ dư, chủng tộc, phong hoá,
tập quán bên ngoài.
Mà Thiên
tính là những gì toàn hảo, chí công, chí chính, siêu không gian và thời
gian, những gì thiên nhiên, thiên tạo.
Rũ bỏ
nhân tâm, phàm tâm. Mặc lấy Thiên tâm tức là vượt lên trên những gì biến
thiên, để đi vào vĩnh cửu, vượt lên trên sinh tử, để đi vào trường sinh,
vượt lên trên những gì ti tiện, để trở về tinh hoa, cao đại, vượt lên
trên khiếm khuyết, bất toàn, để thực hiện viên mãn, toàn hảo.
Có làm
xong được công trình này mới mong hợp nhất được với Thượng Đế, Phối
Thiên, Phối mệnh, Thung dung Trung Đạo, duy Nhất, duy Tinh.
Cách đây
hơn hai mươi năm, trong khi soạn thảo Trung Dung, tôi đã đúc kết lại
Tinh hoa đạo Nho bằng ít vần thơ lục bát. Những vần thơ ấy đồng thời
cũng phác họa lại con đường Phản Bản Hoàn Nguyên của Nho giáo, nay xin
đem cống hiến quí vị và cũng là để tổng kết lại đề tài thuyết trình hôm
nay:
Luân lạc
mãi tới bến bờ xa lắc,
Trong đêm
tăm, phiêu dạt biết về đâu,
Lênh đênh
sống trên trùng dương thời khắc,
Chẳng
buông neo, dừng lại được ngày sao?
Biên khu
luân lạc từ bao,
Tìm sao
cho thấy đường vào Trung Dung,
Đường
Trung Dung linh lung ẩn khuất,
Nẻo Bồng
Lai gai dấp, lau che,
Bao giờ
mới tỉnh giấc mê,
Bao giờ
tâm tư mới hướng về tinh vi?
Bao giờ
cái thế nguy mới hết,
Biết bao
giờ Nhân hiệp với Thiên?
Bao giờ
Thiên mệnh sáng lên,
Trời mây
khắp chốn ấm êm, hiệp hoà
Gẫm cho
kỹ Tính là thiên mệnh,
Là tinh
hoa, là chính đạo Trời,
Vừng
trăng minh đứùc sáng ngời,
Mà mây
nhân dục lấp vùi mất trăng.
Nhưng
trăng sáng muôn năm vẫn sáng,
Mây dù
che, chẳng phạm đến trăng,
Chỉn e
trần thế tối tăm,
Con đường
phiêu lãng muôn phần gian lao.
Trời cao
cả lẽ nào chẳng sợ,
Trời
chẳng xa, trời ở đáy lòng.
Cho nên
nội kính, ngoại cung,
Mắt nhìn
chẳng thấy, tưởng chừng kề bên,
Trời tuy
thị vô biên, vô tận,
Nhưng mà
trời vẫn lẩn trong tâm.
Thật là
kỳ ảo khôn cùng,
Không hơi
không tiếng vẫn lừng uy danh.
Khuôn
phép Trời chí thành chí thiện,
Tiếng của
Trời là tiếng lương tâm,
Mới hay
trong chốn cát lầm,
Muôn ngàn
đã sẵn vô ngần ngọc châu,
Mới hay
giữa sông sâu, núi thẳm,
Vẫn có
đường bằng phẳng thênh thênh,
Đường
Trời rong ruổi mặc tình,
Không
xiên, không vẹo, không vênh, không tà,
Đường
Trời nọ bao la thảng đãng,
Không
quanh co, không vặn, không xiên,
Đường
Trời phẳng lặng êm đềm,
Không hề
tráo trở, đảo điên vạy vò,
Đường
Trời nọ thẳng vo thẳng tắp,
Vút một
lèo tới cực cao minh,
Đó là duy
Nhất, duy Tinh,
Đó là
Thái cực tinh thành xưa nay.
Cuộc phù
thế chớ say danh lợi,
Bả lợi
danh phất phới, hão huyền,
Chớ mê
những cái đảo điên,
Mà quên
mất cái vững bền ngàn thu,
Sông thế
sự hãy ưa chèo ngược,
Chèo
ngược dòng lên tuốt căn nguyên.
Căn
nguyên là chính THANH THIÊN,
Vô biên
vô tận triền miên không cùng.
Bỏ phù
phiếm, tìm tông, tìm tích,
Dương
cung thần ngắm đích Thân Tâm,
Bắn vào
Trung điểm Tâm Thần,
Ấy là
thoát cõi hồng trần lầm than,
Như trăng
sáng băng ngàn trần thế,
Rẽ Đẩu
Ngưu, đượm vẻ thần tiên.
Ấy là tâm
pháp thánh hiền,
Ấy là
Trung Đạo tương truyền xưa nay.
Máy tạo
hoá phơi bày trước mắt,
Lẽ huyền
vi đâu bặt tăm hơi,
Mới hay
muôn sự tại người,
Một lòng
vàng đó Trời cũng thua.
Hãy học
hỏi cho ra gốc ngọn,
Hãy cố
công làm trọn mệnh Trời,
Tim kia
lạc lõng tả tơi,
Thu về
đừng để vãi rơi ngoài đường,
Tính Trời
ấy khuôn vàng thước ngọc.
Phải chắt
chiu bao bọc ngày đêm.
Tồn tâm
dưỡng tính cho chuyên,
Tơ hào
nhân dục, chớ hoen gương Trời.
Lòng băng
tuyết thảnh thơi, thãng đãng,
Sống đơn
sơ, kết bạn vô biên,
Rộng dày
cùng đất sánh duyên,
Cao minh
kết ngãi thanh thiên muôn nghìn.
Mỗi động
tác phải nên gương mẫu,
Mỗi hành
vi nên dấu nên khuôn,
Lời lời,
ngọc nhả châu phun,
Lưu cho
hậu thế muôn ngàn dài lâu.
Gẫm đạo
lý có sau có trước,
Lẽ âm
dương có ngược có xuôi.
Ngược là
gío cuốn bụi đời
Đẩy đưa
vào chốn trần ai, cát lầm
Có thử
thách mới phân vàng đá,
Có lầm
than mới rõ chuyện đời.
Khi xuôi,
sấm chớp tơi bời,
Tầng sâu
bày giải căn trời nội tâm.
Trông tỏ
đức chí nhân chí chính,
Biết mục
tiêu sẽ định, sẽ an.
Rồi ra
suy xét nguồn cơn,
Con đường
Phối Mệnh chu toàn tóc tơ.
Vốn hoàn
thiện quang hoa mọi nhẽ,
Ấy tính
trời muôn vẻ tinh anh,
Quang
minh rồi mới tinh thành,
Ấy nhờ
giáo hoá tập tành mà nên.
Đã hoàn
thiên tất nhiên thông tuệ,
Thông tuệ
rồi ắt sẽ tinh thành.
Việc gì
tính trước cũng linh,
Không
toan tính trước âu đành dở dang.
Lời xếp
trước hoang mang khôn nhẽ,
Việc tính
rồi, hồ dễ rối ren,
Hành vi
đã sẵn chốt then,
Sẽ không
vấp vướng, sẽ nên tinh thành.
Đạo làm
người có rành duyên cớ,
Sẽ mênh
mang muôn thủa muôn đời.
Hoàn
toàn là đạo của Trời,
Trở
nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.
Người
hoàn thiện cất tay là trúng,
Chẳng
cần suy, cũng đúng chẳng sai,
Thung
dung Trung Đạo tháng ngày,
Ấy là
vị thánh từ ngay lọt lòng.
Còn
những kẻ cố công nên thánh,
Gặp
điều lành phải mạnh tay co,
Ra
công học hỏi thăm dò,
Học
cho uyên bác, hỏi cho tận tường.
Đắn đo
suy nghĩ kỹ càng,
Biện
minh thấu triệt, mới mang thi hành.
Đã
định học chưa thành chưa bỏ,
Đã hỏi
han, chưa tỏ chưa thôi.
Đã
suy, suy hết khúc nhôi,
Chưa
ra manh mối, chưa rời xét suy.
Biện
luận mãi tới khi vỡ lẽ,
Chưa
rõ ràng, không thể bỏ qua,
Đã làm
làm tới tinh hoa,
Tinh
hoa chưa đạt, việc ta còn làm.
Người
một chuyến thân toàn thắng lợi,
Ta tốn
công dở dói trăm khoanh,
Người
làm mười bận đã thành,
Ta làm
nghìn thứ ta ganh với người.
Đường
lối ấy nếu ai theo được,
Dẫu u
mê, sau trước sẽ thông.
Dẫu
rằng mềm yếu như không,
Rồi ra
cũng sẽ ra lòng sắt son.
Đạo quân
tử như in lữ thứ,
Muốn đi
xa phải tự chỗ gần.
Đạo người
như cuộc đăng san,
Muốn lên
tới đỉnh, đầu đàng là chân.
Việc trời
thực muôn phần huyền ảo,
Thực sâu
xa, ẩn náo khôn cùng,
Cho hay
đức nhẹ như lông,
Nhưng
lông chưa thoát được vòng trọng khinh,
Đức Trời
thực uy linh siêu việt,
Không
tiếng tăm trác tuyệt vô cùng.
Cho người
cái đạo Trung Dung,
THIÊN
NHÂN NHẤT QUÁN, thần thông diệu huyền.
Khủng cụ
rồi, phối thiên phối mệnh.
Ấy đầu
đuôi, động tĩnh phù trầm.
Nguyên
lai, bản mạt, thiển thâm,
Hiển vi tụ
tán, xa gần, ngược xuôi.
Cái tạm
bợ bao ngoài vĩnh cửu,
Áo thô sơ
che dịu gấm hoa.
Rồi ra
vàng ngọc chói loà,
Trời
người định vị, Trung Hoà vô biên.

CHÚ THÍCH
Thuỷ chi tự trung thuận hành nhi sinh, chung nhi phục nghịch tàng, qui ư
Trung Hoàng Thái Cực nhưng kiến phụ mẫu vị sinh chi tiền chi diện mục.
始 之 自 中 順 行 而 生
,
終 而 復 逆 藏 歸 於 中 黃 太 極
,
仍 見 父 母 未 生 之 前 之 面 目.
– Văn đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 101.
Thái cực thuỷ vu Nhất nhi chung vu Nhất dã. Vạn vật thuỷ vu Nhất nhi
chung vu Nhất, tức Trang tử xuất cơ, nhập cơ chi nghĩa.
太 極 始 于 一 而 終 于 一 也
.
萬 物 始 于 一 而 終 于 一
,
即 莊 子 出 機 入 機 之 義
. Nguyễn Ấn Trường, Tạo hoá thông, tr. 52.
Nghịch nhi thành tiên, thuận khứ sinh nhân, sinh vật.
逆 而 成 仙
,
順 去 生 人
,
生 物
. (Đạo Nguyên tinh vi ca, q. hạ, tr. 9b). Xem Trung Dung Tân
khảo của tác giả, tr. 251.
Đơn tự nhật đầu nguyệt cước, trung gian nhất hoạch hệ Nhật Nguyệt hợp
nhất chi vị dã. Kỳ nội nhất điểm vi tinh khí hỗn hợp dĩ tượng nhất lạp
kim đơn hĩ.
丹 字 日 頭 月 腳 中 間 一 劃 係 日 月 合 一 之謂 也
.
其 內 一 點 為 精 氣 混 合 以 象 一 粒 金 丹 矣
. (Tu Chân bất tử phương, tr. 26).
Thái Hư thị viết: Đơn đạo, thánh công bất ngoại hoàn phản.
太 虛 氏 曰
:
丹 道 聖 功 不 外 還 返
. (Thượng Phẩm đơn pháp tiết yếu, tr. 7).
Ân Thương chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng
đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm.
殷 商 之 旅
,
其 會 如 林
,
矢 于 牧 野
,
維 予 侯 興
.
上 帝 臨 女
,
無 貳 爾 心
. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương. (James
Legge, The She King, tr. 435)
Mục dã dương dương, Đàn xa hoàng hoàng, Tứ nguyên bành bành, Duy sư
Thượng phụ, Thời duy ưng dương, Lượng bỉ Võ Vương, Tứ phạt Đại Thương,
Hội triêu thanh minh.
牧 野 洋 洋
,
檀 車 煌 煌
,
駟 騵 彭 彭
.
維 師 尚 父
,
時 維 鷹 揚
,
涼 彼 武 王
,
肆 伐 大 商
,
會 朝 清 明.
Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, bát chương. (James Legge,
the She king, p. 436)
Minh minh tại hạ, hách hách tại thượng.
明 明 在 下
,
赫 赫 在 上
. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh nhất chương. (James
Legge, the She King, p. 432)
Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo.
不 顯 亦 臨
,
無 射 亦 保
. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Tư Trai, tam chương. (James
Legge, the She King, p. 447)
Duy thử Văn Vương, Tiểu tâm dực dực, Chiêu sự Thượng Đế, Duật hoài đa
phúc, quyết đức bất hồi.
維 此 文 王
,
小 心 翼 翼
.
昭 事 上 帝
,
聿 懷 多 福
.
厥 德 不 回
,
以 受 方 國
. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại Minh, tam chương, (James
Legge, p. 433)
Vô niệm nhĩ tổ, Duật tu quyết đức, Vĩnh ngôn phối mệnh, Tự cầu đa phúc,
Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng Đế, Tuấn mệnh bất dị.
無 念 爾 祖
,
聿 脩 厥 德
.
永 言 配 命
,
自 求 多 福
.
殷 之 未 喪 師
,
克 配 上 帝
.
宜 鑒 于 殷
,
駿 命 不 易
(James Legge, p. 431)
Mệnh chi bất dị, Vô át nhĩ cung, Tuyên chiêu nghĩa vấn...
命 之 不 易
,
無 遏 爾 躬
.
宣 昭 義 問.
Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Văn vương, thất chương. (James
Legge, the She King, p. 431)
Lễ Ký, Lễ Vận, chương VII, tiết IV, mục 5, 6, 7.
Nguyễn
văn Thọ, Chân Dung Khổng tử, chương XI.
Couvreur,
Liki I, Introduction, p. IX.
Nho
Giáo,
Trần
Trọng Kim, quyển I, tr. 147 và tiếp theo.
Lễ Ký,
Lễ Vận, 7.
Couvreur
Liki I, tr. 527, 528 chú thích.
Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri thiên. Trung Dung chương XX.
Tôi đã
dịch thoát câu nàu như sau:
Biết
người, trước phải biết Trời,
Hai chữ Cách vật của sách Đại học đã là một đề tài tranh luận của Nho
Gia từ trước đến nay.
Ta cũng
đã biết có 2 quan niệm khác nhau về vấn đề này: Một là của Chu Hi, hai
là của Vương Dương Minh. Riêng tôi, tôi giải Cách Vật là tìm ra Cốt Cách
muôn loài, muôn vật, tìm cho ra Khuôn Trời trong muôn loài, muôn vật.
Trong bài Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu: «Bình dẫu phá còn lề
cốt cách, Gương dù tan vẫn sạch trần ai.» Chữ Hán cũng có câu: «Bình
phong tuy phá, cốt cách do tồn, Quân tử tuy bần, lễ nghĩa thường
tại.»
屛 風 雖 破
骨 格 猶 存
君 子 雖 貧 禮 儀 常 在
.
Tôi dịch Cách là Khuôn Trời (ở nơi muôn vật) vì hiểu Cách là Cốt cách.
Trung Dung cũng cho rằng trời dựng nên muôn loài chỉ có một khuôn:
«Thiên địa chi đạo, khả nhất ngôn dĩ tận dã, kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ
sinh vật bất trắc.»
天 地 之 道
,
可 一 言 而 盡 也
,
其 為 物 不 貳
,
則 其 生 物 不 測
(Trung Dung, chương 26.)
Khắc kỷ phục lễ... Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn,
phi lễ vật động.
克 己 復 禮
[...]
非 禮 勿 視 非 禮 勿 聽 非 禮 勿 言 非 禮 勿 動.
(Luận Ngữ XII, 1)
Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành; lạc mạc đại yên.
萬 物 皆 備 於 我 矣
.
反 身 而 誠 樂 莫 大 焉
. (Mạnh
Tử,
Tận Tâm
Chương cú thượng, 4).
Mạnh tử viết: Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ Tính tắc tri Thiên
hĩ.
孟 子 曰
:
盡 其 心 者
,
知 其 性 也
.
知 其 性
,
則 知 天 矣
. (Mạnh
tử,
Tận tâm
chương cú thượng, 1).
Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự Thiên dã.
存 其 心
,
養 其 性
,
所 以 事 天 也.
(Mạnh
Tử,
Tận Tâm
chương cú thượng, 1).
Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; Tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; Từ
nhượng chi tâm, Lễ chi đoan dã; Thị phi chi tâm, trí chi đoan dã... Nhân
chi hữu thị tứ đoan, do kỳ tứ thể dã.
惻 隱 之 心
,
仁 之 端 也
;
羞 惡 之 心
,
義 之 端 也
;
辭 讓 之 心
,
禮 之 端 也
;
是 非 之 心
,
智 之 端 也
.
人 之 有 是 四 端 也 猶 其 有 四 體 也
(Mạnh Tử, Công tôn Sửu, chương cú thượng, 6)
... Chu
Hi bình giải về chữ Tính của Mạnh tử như sau: «... Tính là Bản thể của
Thái Cực, khó dùng lời lẽ mà mô tả được. Tuy Tính hàm súc vạn lý nhưng
đại khái có 4 cương lĩnh lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.» (Dịch theo
Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19 – Hối Ông học án.)
Phàm hữu tứ đoan ư ngã giả, tri giai khuếch nhi sung chi hĩ, nhược hoả
chi thuỷ nhiên, tuyền nhi thuỷ đạt. Cẩu năng sung chi, túc dĩ bảo tứ
hải; cẩu bất sung chi, bất túc dĩ sự phụ mẫu.
凡 有 四 端 於 我 者
,
知 皆 擴 而 充 之 矣
.
若 火 之 始 然
,
泉 之 始 達
.
苟 能 充 之
,
足 以 保 四 海
;
苟 不 充 之
,
不 足 以 事 父 母
. Mạnh tử, Công Tôn Sửu, chương cú thượng, 6
Chu Hi
bình: «Nên, theo Mạnh Tử, thì căn cứ vào nhân tình, ta có thể suy ra
điều thiện – thiện đây là tính thiện – ý nói đi ngược dòng tình cảm, sẽ
hay biết Tính vậy.» (Dịch theo Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19
– Hối Ông học án)
Cố quân tử tôn đức tính, nhi đạo vấn học, trí quảng đại nhi tận tinh vi,
cực cao minh nhi đạo Trung Dung.
故 君 子 尊 德 性 而 道 問 學
,
致 廣 大 而 盡 精 微
,
極 高 明 而 道 中 庸
. Trung Dung XXVII.
Cố viết Phối Thiên. 故 曰 配 天. Trung Dung XXXI.
«Ô moines, il y a un état non-né, non- devenu, non-conditionné,
non-composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non-né, non-devenu,
non-conditionné, non-composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour
ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a
un tel état, il y a une évasion possible de ce qui est né, de ce qui est
devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composé. » ―
Présence du Buddhisme, p. 268- Udanâ, p. 129, Colombo, 1929.
«Nous devons donc trouver, quelque part, un centre d’òu partent pour
ainsi dire tous les autres plans de l’existence. Une fois là, nous
devons essayer de trouver une solution. Voilà le programme.
Où est ce cente? Il est en dedans de nous.
Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce
qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le
centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers ce seul
point; il est leur terrain commun et c’est seulement en nous placant là
que nous pourrons trouver une solution commune... » ― Vivekananda,
Jnana Yoga, p. 138.
Xem Văn Đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 36b.
La découverte du Centre du Soi, qui coincide avec Brahman, et qui
correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres
qui permettent au sacrificiant d’échapper à l’espace et au temps, est la
grande découverte des Brahmanes, celle qui mène à l’orée de l’Upanishad.
― Lilian Silburn, L’Instant et Cause, p. 103.
Sở vị Phật tính, tựu thị Thiên Tính. Dã tựu thị Nhu Gia sở vị Thiên
Mệnh, sở vị Đạo Liêu. Nan quái Khổng tử viết: Triêu văn Đạo, tịch tử khả
hĩ.
所 謂 佛 性
,
就 是 天 性
.
也 就 是 儒 家 所 謂 天 命
,
所 謂 道 了
.
難 怪 孔 子 曰
:
朝 聞 道
,
夕 死 可 矣.
― Lịch đại Cao Tăng cố sự, q. 7, tr. 30.
Dieu, dit l’Ecriture, est la vie de l’homme. Ipse est vita tua. (Deutéronome,
XXX, 20. Texte de la Vulgate cité par St Thomas D’Aquin, Summa
Theologica, Ia- IIae, q. 110 a. I, obj. 2) et Saint Augustin a
souvent affirmé que Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle- même est
la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin,
Confessions, VII, 1, 2 et X, 6, 10). Cf. Émile Gilson, Théologie
et Histoire de la Spiritualité, Paris, Librairie philosophique, J.
Vrin. 1943, p. 10.
Il y a un Infini en nous. ― Florilège de la pensée théosophique moderne,
Lotus Bleu, 72 Année, no II, Novembre 1967, p. 293.
L’illumination spirituelle révèle l’Élément unique qui est dans l’esprit
et dans le coeur de tout être humain. – Florilège de la pensée
théosophique moderne, Lotus Bleu, 72 Année, Aout- Septembre 1967,
p. 235.
Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine,
et des possibilités infinies. (Ibidem, p. 235).
Pour la Religion Dieu et l’ Homme, la Qualité et la Forme étaient
séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont un. – Lotus Bleu,
72e Année, Décembre, 1967, p. 326.
Seul l’inconnaissable et incognoscible Karana, La Cause sans Cause de
toutes les Causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le
terrain sacré et solitaire de notre coeur - invisible, insaississable,
indistinct, sauf par la ‘petite voix silencieuse’ de notre conscience
spirituelle. Ceux qui l’adorent devraient le faire dans le silence de la
solitude sanctifiée de leurs âmes. – Lotus Bleu, Janvier 78, p.
17.
«L’Atman, le Soi... montrait toute sa puissance à celui qui était
capable de reconnaitre la ‘petite voix silencieuse’. Depuis les jours de
l’homme primitif... jusqu’à notre âge moderne, il n’y a pas eu un
philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire
silencieux de son coeur, la grande mystérieuse vérité. Si c’était un
Initié, il l’apprenait comme une science sacrée.» Doctrine Secrète,
vol. 5, p. 67. Lotus Bleu, 75e Année, No I, p. 18.
Il est une lumière qui brille au delà de toutes les terres, sur terre
au-delà de nous tous, au- delà des cieux vraiment les plus hauts. C’est
une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y a un pont entre le temps et
l’éternité et ce pont est l’Esprit dans l’homme. ni le jour ni la nuit
ne traversent ce pont; ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin...
Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les
blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour
celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que
dans le monde de l’Esprit, il y a une lumiêre que est éternelle. (Lotus
Bleu, 72e Année, 4 Avril. 1967, p. 115).
Đặt Trời vào Tâm Điểm con người, sẽ hiểu rõ lẽ:
Động
(người) ― Tĩnh (Trời)
Phù (nổi:
người) ― Trầm (chìm: Trời).
Nguyên
(nguồn gốc: Trời) ― Lai (phóng xuất ra: người)
Bản (gốc:
Trời) ― Mạt (ngọn: người).
Thiển
(nông: người) ― Thâm (sâu: Trời).
Hiển
(hiển lộ: người) ― Vi (vi ẩn: Trời).
Tụ (tụ
lại: về với Trời) ― Tán (tán ra, lìa xa: Trời). v. v...
|