» mục lục

Sự phát triển của Đạo giáo

trước khi Huỳnh Đình Kinh xuất hiện [1]

* Rolf Homann (1941-2003)

* Lê Anh Minh dịch

 

Huỳnh Đình Kinh 黃庭經 [2] là một đạo kinh xuất hiện khoảng từ đời Ngụy (220-265 cn) đến đời Tây Tấn (265-316 cn). [3]

Cho đến thời gian đó, Đạo giáo đã xuất hiện và phát triển được ít nhất là 6 thế kỷ và có các tông phái  [4] khác nhau với sự phát triển riêng biệt của mỗi phái. Để định vị tác phẩm Huỳnh Đình Kinh trong hệ thống Đạo giáo, trước hết ta cần sơ lược lịch sử Đạo giáo. [5]

Khi nghiên cứu Đạo giáo thời Tiên Tần (trước năm 220 tcn), Holmes Welch đã phân biệt bốn nguồn phát sinh. Bốn nguồn này về sau hội nhập thành một hệ thống có tính tổng hợp. Đó là:

1- Đạo gia 道家 (der philosophische Taoismus),

2- Đan đạo 丹道 (thuật luyện đan 煉丹術: die Alchemie),

3- Khát vọng đi tìm các đảo có thần tiên (das Suchen nach den Inseln der Seligen),

4- Đạo dẫn 導引 (der hygienische Taoismus).

Theo Welch, Đạo gia thực sự xuất hiện từ năm 350 đến 250 tcn. [6] Những nhân vật tiêu biểu của nguồn này là Lão Tử 老子, Trang Tử 莊子, Liệt Tử 列子, và Văn Tử 文子. [7] Đạo gia 道家 là một phái trong bách gia 百家 (die hundert Philosophen-schulen). Đạo gia [8] là thuật ngữ được dùng để phân biệt với Đạo giáo 道教 (der religiöse Taoismus). [9] Đạo gia là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc của giới Hán học Tây phương. [10]

Nguồn thứ hai, Đan đạo (die Alchemie), dường như do Trâu Diễn 騶衍 (305-240 tcn) khởi sáng. [11] Tại Trung Quốc cổ đại, đan đạo không chỉ là sự chuyển đổi các kim loại cơ bản trở nên quý báu hơn, mà còn là sự kết hợp chặt chẽ với khát vọng truy cầu thuốc trường sinh bất tử. [12] Những người theo xu hướng này nghĩ rằng: thông qua sự chế tạo đan dược (Elixieren) từ thảo mộc hoặc từ chu sa (Zinnober) và sulfate thủy ngân (Quecksilber-sulfiden: mercury sulfate: sulfure de mercure), họ sẽ đạt được trường sinh bất tử. [13]

Về nguồn thứ ba, tức là khát vọng tìm kiếm các đảo có thần tiên, Sử Ký Tư Mã Thiên đã ghi chép: «Kể từ các đời vua Uy Vương 威王 (358-320 tcn), Tuyên Vương 宣王 (319-301 tcn), và Chiêu Vương 昭王 (311-279) của nước Yên , nhiều người đã được chở ra biển khơi để tìm kiếm các đảo Bồng Lai 蓬萊, Phương Trượng 方丈, và Doanh Châu 瀛洲. Tương truyền, ba đảo thần tiên này ở Bột Hải 渤海 [14]

Về sau, các đảo này được định vị xa hơn nữa. Sách Liệt Tử Xung Hư Chân Kinh 列子沖虛真經) đã mô tả đầy ấn tượng về các đảo này như sau: «Phía đông của Bột Hải, không rõ là xa bao nhiêu dặm, có một vùng nước lớn. Thực tế ở đó là một thung lũng không có đáy. Bởi phía dưới của thung lũng không có đáy nên thung lũng được gọi là Quy Khư 歸墟. [15] Nước từ tám phương trời và chín vùng đất, và nước sông Ngân Hà đều chảy đổ vào nơi này, thế mà nước ở đấy chẳng tăng chẳng giảm. [16] Ở nơi này có năm ngọn núi. Ngọn thứ nhất tên là Đại Dư 岱輿, ngọn thứ hai là Viên Kiều 員嶠, ngọn thứ ba là Phương Hồ 方壺, ngọn thứ tư là Doanh Châu 瀛洲, và ngọn thứ năm là Bồng Lai 蓬萊. Các núi này cao 30.000 dặm, và chu vi 30.000 dặm. Đỉnh núi là vùng bằng phẳng, có đường kính 9.000 dặm. Các núi cách nhau 70.000 dặm, là nơi dân cư ở. Những đền đài và đạo quán trên đỉnh núi thì bằng vàng và ngọc. Cầm thú ở đó có màu trắng tinh khiết. Cây cối bằng ngọc trai và san hô. Hoa trái có vị thơm ngon dễ chịu. Ai mà ăn được hoa quả ấy sẽ không già và không chết.» [17]

Như thế đã có những chuyến hải hành tìm đến các đảo thần tiên này để hái hoa quả trường sinh bất tử. [18]

Nguồn thứ tư, Đạo dẫn, được Trang Tử đề cập một cách mai mỉa trong Nam Hoa Kinh: «Hít thở dài sâu; nhả hơi cũ, hít vào hơi mới; đu treo mình lên như gấu, duỗi mình như chim để sống lâu. Đó chỉ là cách thức mà kẻ sĩ đạo dẫn và kẻ luyện dưỡng thân thể ưa thích để được sống lâu như ông Bành Tổ.» [19]

Các nhà dạo dẫn truy cầu trường sinh bất tử thông qua việc luyện khí và vận động thân thể. Như vậy, ba nguồn sau nói chung là truy cầu sự bất tử (Unsterblichkeit). [20]

Vào đời Tần (220-206 tcn) và đời Tây Hán (206 tcn-23 cn), ba nguồn chảy truy cầu sự bất tử nói trên đã hợp lưu thành một Đạo giáo mang tính chất tổng hợp (ein synchretistischer Taoismus). Hệ thống mới mẻ này thực chất đã được các phương sĩ 方士 (Magiern) khởi sáng. Người nổi bật nhất trong bọn là Lý Thiếu Quân 李少君, đã phục vụ khá lâu dưới triều Hán Vũ Đế 漢武帝(140-186).

Theo Welch, tên tuổi Lý Thiếu Quân đã gắn liền với thuật đạo dẫn, đan đạo, các cuộc hải hành tìm thuốc trường sinh ở đảo tiên, và khởi đầu hình thành một thần phổ 神譜 độc lập của Đạo giáo (der Aufbau eines eigenständigen taoistischen Pantheons). [21]

Đạo gia vẫn tiếp tục tiến triển song hành với Đạo giáo, nhưng Đạo gia bị giải thích sai lạc và bị hiểu nhầm là khởi nguyên cho Đạo giáo tổng hợp. Những canh tân tiếp theo sau những tri thức đến thời điểm ấy vẫn chưa mở đường cho Đạo giáo tổng hợp. [22]

Những thế kỷ đầu công nguyên (tức là sau Thiên Chúa giáng sinh), Đạo gia bắt đầu phục hưng dưới hình thức Thanh Đàm 清談 (reine Konversation) [23] và Phong Lưu 風流 (Windfließen). [24]

Đạo giáo được nhận biết rõ rệt qua sự xuất hiện của hai xu hướng mới là phái nội quán chư thần (die Innere-Gott-Hygiene-Schule: the Interior Gods Hygiene School) tức là một sự phát triển đặc biệt của đạo dẫn, và xu hướng tu hành tập thể trong đạo quán.

Huỳnh Đình Kinh là kinh điển nền tảng của phái nội quán chư thần.

Vào thời kỳ phái nội quán chư thần xuất hiện, người ta đã biết bảy phép tu luyện của Đạo giáo để trường sinh bất tử:

1- Sống đạo đức và hành thiện (gute Taten und moralische Lebenswandel).

2- Hành khí thổ nạp pháp 行氣吐納法 (Atemtechniken).

3- Sái liệu pháp 晒療法 = Nhật bộc pháp 日曝法 (Heliotherapeutische Techniken: phơi nắng trị bệnh).

4- Đạo dẫn 導引 (gymnastische Übungen).

5- Phòng trung thuật 房中術 (Sexualpraktiken).

6- Luyện đan - phục dược 煉丹服藥 (alchemistische und pharmazeutische Methoden).

7- Tịch cốc 辟穀 = Ẩm thực điều dưỡng 飲食調養 (Diättechniken). [25]

Các phép luyện từ 2- đến 7- được gọi là dưỡng tính 養性 hay dưỡng khí 養氣.

Thông qua sự xuất hiện của phái nội quán chư thần, phương pháp nội quán nhằm phát triển «những con người bên trong» này đã biến đổi cách tu luyện chủ yếu nhấn mạnh vào ngoại diện (chẳng hạn chú trọng về thể xác hoặc đối ngược với tha nhân). Tất cả các bộ phận thân thể con người đều có thần minh cư ngụ. Bằng cách cầu nguyện, tham thiền, nuôi dưỡng đúng cách, v.v. chư thần này sẽ trợ giúp cho hành giả được trường sinh bất tử.

Bài tiểu luận này nhằm mục đích mô tả chư thần quan trọng nhất trong thân thể con người theo quan điểm của Huỳnh Đình Kinh so với các tác phẩm sau đó của phái nội quán chư thần này, và nếu có thể được thì xác định xem chức năng của các vị thần đó là gì.

 

Dr. Rolf Homann (1941-2003)

Lời Giới Thiệu : Dr. Rolf Homann là nhà nghiên cứu Tương Lai (Zukunftsforscher), giáo sư đại học, và cũng là một ký giả về du lịch (Reisejournalist), sinh ngày 4 tháng 01 năm 1941 tại Hannover, mất ngày 27 tháng 9 năm 2003. Thông thạo các ngôn ngữ: Anh, Pháp, Đức, Hán cổ đại, Nhật cổ đại; ông đã học qua các bộ môn Trung Quốc Học (Sinologie), Nhật Bản Học (Japanologie), Tôn giáo Đối chiếu (vergleichende Religionswissenschaft), và Vật lý tại các Đại học Marburg, Freiburg, và Tübingen. Ông đỗ Tiến sĩ về Trung Quốc Học (Dr. Phil. in Sinologie) năm 1969 tại Đại học Tübingen, với thứ hạng danh dự (magna cum laude). Từ 1969 đến 1979, ông phụ trách các hội thảo về Đông Á tại các Đại học Tübingen và Zürich. Ông dạy Hán ngữ tại Đại học Tübingen từ 1969-1973, và tại Đại học Zürich từ 1973 đến 1979. Từ 1980 đến 1988 ông quản lý các dự án nghiên cứu văn hoá và xã hội tại viện Gottlieb-Duttweiler Institut tại Rüschlikon. Năm 1985 ông làm Giáo sư thỉnh giảng về môn Nghiên cứu Tương lai (Zukunftsforschung) tại Stockton State College (New Jersey). Ngoài ra ông còn là cố vấn, chủ bút, ký giả của nhiều tạp chí về marketing và du lịch.

Chuyên khảo về Huỳnh Đình Kinh của Tiến sĩ Homann xuất bản năm 1971, lúc ông 30 tuổi, đã góp mặt vào một số công trình nghiên cứu hiếm hoi về Huỳnh Đình Kinh của các học giả Tây phương. Dịch giả đã hân hạnh liên lạc với Tiến sĩ Homann qua Email, xin phép ông để phiên dịch chuyên khảo của ông về Huỳnh Đình Kinh từ Đức ngữ sang Việt ngữ, và xuất bản thành sách. Ông đã rộng lượng chấp thuận qua Email đề ngày 20-6-2001. Bản dịch đã xuất bản với nhan đề Lược Khảo Huỳnh Đình Kinh, Nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2003.


CHÚ THÍCH

[1] Dịch từ nguyên tác Đức ngữ: Entwicklung des Taoismus bis zum Auftreten des Huang-t’ing ching, trích dịch từ Rolf Homann, Die wichtigsten Körpergottheiten im Huang-t’ing ching (Chư thần quan trọng nhất trong nhân thể theo Huỳnh Đình Kinh), Verlag Alfred Kümmerle, Göppingen, Germany, 1971, tr. 1-6. Chú thích riêng của người dịch được ghi là [LAM chú].

[2] Có hai tác phẩm cùng tên là Huỳnh Đình Kinh: Huỳnh Đình Nội Cảnh Ngọc Kinh 黃庭內景玉經 Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Ngọc Kinh 黃庭外景玉經. Tôi (Homann) gọi tắt là Nội Cảnh Ngoại Cảnh.

[3] Thời gian hình thành Huỳnh Đình Kinh sẽ nói rõ ở một chương khác ở sau.

[4] [LAM chú]: Đạo giáo Trung Quốc có nhiều tông phái (tức giáo phái). Thuật ngữ tông phái đồng nghĩa nhau và Đạo giáo hay dùng lẫn lộn phái tông để đặt tên. Người Tây phương thường dùng chữ sect để dịch chữ phái và chữ school để dịch chữ tông. Thực tế, tuy tôngphái đồng nghĩa nhau, nhưng Phật giáo có xu hướng dùng chữ tông và Đạo giáo có xu hướng dùng chữ phái (Xem Isabelle Robinet, Taoist Meditation - The Maoshan Tradition of Great Purity [Thượng Thanh Mao Sơn Tông 上清茅山宗], Julian F. Pas và Norman J. Giradot dịch Pháp-Anh, State University of New York Press, 1993, tr. xv.). Trong vài chục tông phái của Đạo giáo Trung Quốc, ngoài thuật ngữ tông phái, thuật ngữ đạo giáo cũng được dùng. Nhưng các thuật ngữ này được dùng không theo quy tắc nào cả và cũng không hề có sự so sánh về qui mô lớn nhỏ giữa các thuật ngữ ấy.

[5] Phần khái lược này tham khảo từ:

Holmes Welch, Syncretism in the Early Taoist Movement (Tính tổng hợp trong phong trào Đạo giáo sơ khai). đăng trong tạp chí Papers on China, vol 10, Cambridge (Mass.), 1956.

Holmes Welch, Taoism: The parting of the Way (Đạo chi phân kỳ), Boston, 1966.

Max Kaltenmark, Lao-tseu et le Taoisme (Lão Tử và Đạo giáo), Paris, 1956.

[6] Xem Holmes Welch, Taoism: The parting of the Way (Đạo chi phân kỳ), tr. 89. Ở đây tôi (R. Homann) bác bỏ sự nghiên cứu cho rằng Đạo giáo là sự tái hiện của tôn giáo cổ đời Thương. Đây là quan điểm của Werner Eichhorn, Zur Religion im ältesten China [Shang-Zeit] (Bàn về tôn giáo ở Trung Quốc cổ đại [đời Thương]), đăng trong Wiener Zeitschrift für die Kunde Süd- und Ostasiens (Tạp chí của thành phố Viên, nghiên cứu Đông Nam Á học) II, 1958. Ở trang 7 và đặc biệt là trang 28, Eichhorn viết: «Nhiều nơi trong xã hội bấy giờ, người ta vẫn tín ngưỡng vị thần xa xưa huyền bí của dân đời Thương và theo giòng lịch sử vị thần này vẫn còn được tín ngưỡng trong các tông phái Đạo giáo và trong sự thực hành tôn giáo của họ, như thể Đạo giáo xét theo nhiều phương diện chính là sự phản ảnh của tinh thần và nghi thức của tôn giáo đời Thương.»

[7] [LAM chú]: Văn Tử là tác giả của một đạo kinh mang cùng tên là Văn Tử. Cho đến nay người ta vẫn chưa minh xác được nhân vật Văn Tử là ai. Một vài thuyết cho rằng Văn Tử là Tân Kế Nhiên 辛計然 vốn là thầy của Phạm Lãi 范蠡. Cả hai được Việt Vương Câu Tiễn 越王勾踐 trọng dụng trước khi Câu Tiễn bị nguy khốn tại Cối Kê 會稽. Ban Cố 班固 viết trong Hán Thư 漢書 rằng: Văn Tử là đệ tử của Lão Tử. Văn Tử sống đồng thời với Khổng Tử. (Xem Trương Thanh Hoa 張清華 chủ biên, Đạo Kinh Tinh Hoa 道經精華, Thời Đại Văn Nghệ xuất bản xã, Trường Xuân, 1995, quyển 2, tr. 1270.) Ở Việt Nam chưa hề có sách báo nào viết về Văn Tử.

[8] Max Kaltenmark, Lao-tseu et le Taoisme (Lão Tử và Đạo giáo), Paris, 1956, tr. 135.

[9] Wilhelm Grube đã có sự phân biệt này trong quyển Religion und Kultur der Chinesen (Tôn giáo và Văn hóa của người Trung Quốc), Leipzig, 1910, tr. 88, 89. Tuy nhiên người ta không thể nhận định rằng có sự chuyển biến từ Đạo gia sang Đạo giáo, mà phải nói về một hệ thống tôn giáo có tính tổng hợp mà Đạo gia bị giải thích nhầm là mở đường cho Đạo giáo.

[10] Về sự xuất hiện của Đạo gia, xem Arthur Waley, The Way and its Power (Đạo Đức Kinh), London, 1965.

Tổng quan về Đạo gia, xem Fung Yu-lan 馮友蘭 (Phùng Hữu Lan), A History of Chinese Philosophy (Trung Quốc Triết Học Sử), (bản dịch Anh ngữ của Derk Bodde), Princeton, Vol.1, 1952, tr. 133, 170, 221.

[11] Xem Holmes Welch, Syncretism in the Early Taoist Movement, 1956. tr. 10 và 42. Ở đây Welch đã bảo Hán Thư [là sách] đầu tiên nói rằng Trâu Diễn có liên hệ với thuật luyện đan.

Joseph Needham, Science and Civilisation in China, vol 5, Cambridge, 1956, tr. 241, cho rằng đan đạo thực sự bắt đầu vào thế kỷ IV tcn.

Jerome Wilson, Ciba Symposia, Vol. 2, No 7, Oct-1940, tr. 605, cho rằng Tần Thủy Hoàng là người sáng lập [theo truyền thuyết] của đan đạo (der legendäre Gründer der Alchemie).

Homer H. Dubs, The Beginning of Alchemy (Khởi nguyên của thuật luyện đan), đăng trong tạp chí Iris, Vol 38 (chuyên san quốc tế về lịch sử của khoa học và văn minh), 1947/48, tr. 63, viết rằng đan đạo được đề cập đầu tiên trong một sắc dụ của triều đình vào năm 144 tcn.

[12] Homer H. Dubs, tạp chí đã dẫn, tr. 62, 63.

[13] Xem phần dẫn nhập ngắn gọn về đan đạo của Homer H. Dubs trong tạp chí đã trích dẫn.

[LAM chú]: Đời Tần Thủy Hoàng và các đời vua Hán rất sủng ái các phương sĩ (magicians). Đời Hán, đứng đầu các phương sĩ là Lý Thiếu Quân 李少君. Lý đề xướng một quan điểm mới. Muốn thành tiên thì phải luyện đan 煉丹. Đan tức là kim đan 金丹, ăn kim đan này ắt thành tiên, không những sống lâu không chết (trường sinh cửu thị 長生久視) mà còn có pháp thuật biến hóa khác nữa. Kim đan được tinh luyện từ thần sa 神砂 hay chu sa 朱砂. Theo Holmes Welch, thần sa (hay chu sa: cinabar) chính là Sulphide thủy ngân. Còn theo Arthur Waley, chu sa chính là một thứ phẩm màu đỏ, theo lời tương truyền, có thể ban cho sự sống nếu được tinh luyện và ăn vào. Nhưng thực tế, cả hai – sulphide thủy ngân hoặc phẩm đỏ chu sa – đều là những chất độc, không thể ăn được. Hán Vũ Đế bị Lý Thiếu Quân thuyết phục (năm 133 tcn). Phương pháp luyện kim đan của họ Lý là chuyển hóa chu sa thành vàng. Xét về cơ sở ban đầu, thuật luyện kim Đông và Tây giống nhau, nhưng tại Trung Quốc điều đặc biệt quan trọng chính là ăn thứ kim đan ấy, để có thể thành tiên trường sinh bất tử. Đó là điều khác biệt cơ bản của thuật đan Trung Quốc và thuật luyện đan (alchemy) Tây phương.

[14] Sử Ký hội chú khảo chứng 史記會注考證, Tōkyō, 1932, quyển 4, chương 28, tr. 24.

[15] Danh từ «Quy Khư» mang đầy ẩn dụ này được dịch rất khác nhau. A. C. Graham (The Book of Lieh-tzu, London, 1960, tr. 97) dịch là «Đi vào hư vô» (the entry to the void); Richard Wilhelm (Liä-Dsi: Das Wahre Buch vom Quellenden Urgrund [Liệt Tử Xung Hư Chân Kinh] , 1921, tr. 49) dịch là «gò đất lớn» (das große Grab).

[16] Trang Tử tập thích 莊子集釋, Bắc Kinh, 1961, quyển 3, chương 17, tr. 563, giải rằng đó là nước khắp nơi đổ về Vĩ Lư 尾閭. Theo lời bình giải, đó là Ốc Tiêu 沃燋, là nơi nước bốc hơi lên.

[17] Liệt Tử tập thích 列子集釋, Hongkong, 1965, tr. 94, 95. Xem thêm bản dịch của Graham (sđd, tr.97) và Wilhelm (sđd, tr.49).

[LAM chú]: Tôi dịch theo bản chữ Hán trong Đạo Giáo Thập Tam Kinh 道教十三經 (Ninh Chí Tân 寧志新 chủ biên), Hà Bắc, 1994, quyển thượng, tr. 326; và trong Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典 (Ngô Phong 吳楓 chủ biên), Nam Hải Xuất Bản Công Ty, Trung Quốc, 1994, tr. 238.

Đây là lời của Hạ Cách 夏革 đáp Ân Thang 殷湯 trong thiên Thang Vấn 湯問. Nguyên văn chữ Hán: Bột Hải chi đông bất tri kỷ ức vạn lý, hữu đại hác yên, thực duy vô để chi cốc, kỳ hạ vô để, danh viết Quy Khư. Bát huyền cửu dã chi thủy, Thiên Hán chi lưu, mạc bất chú chi, nhi vô tăng vô giảm yên. Kỳ trung hữu ngũ sơn yên: nhất viết Đại Dư, nhị viết Viên Kiều, tam viết Phương Hồ, tứ viết Doanh Châu, ngũ viết Bồng Lai. Kỳ sơn cao hạ chu tuyền tam vạn lý, kỳ đỉnh bình xứ cửu thiên lý. Sơn chi trung gian tương khứ thất vạn lý, dĩ vi lân cư yên. Kỳ thượng đài quán giai kim ngọc, kỳ thượng cầm thú giai thuần cảo. Châu can chi thụ giai tùng sinh, hoa thực giai hữu tư vị, thực chi giai bất lão bất tử. 海 之 東 不 知 几 億 萬 里 , 有大 壑 焉 . 實惟 無 底 之 谷 , 期下 無 底 , 名曰 歸 墟 . 八絃 九 野 之 水 , 天漢 之 流 , 莫不 注 之 , 而無 增 無 減 焉 . 其中 有 五 山 焉 : 一曰 岱 輿 ,二曰 員 嶠 ,三曰 方 壺 ,四曰 瀛 洲 ,五曰 蓬 萊 其 山 高 下 周 旋 三 萬 里 , 其頂 平 處 九 千 里 . 山之 中 間 相 去 七 萬 里 , 以為 鄰 居 焉 . 其上 台 觀 皆 金 玉 , 其上 禽 獸 皆 純 縞 . 珠玕 之 樹 皆 叢 生 , 花實 皆 有 滋 味 , 食之 皆 不 老 不 死 (Đại hác = đại hải 大海 [Homann dịch là große Schlucht: hang động lớn, thung lũng lớn]; Bát huyền= bát cực 八極; Cửu Dã = Bầu trời được phân chia làm 9 vùng [cũng gọi Thiên Dã], tương ứng với Cửu Châu dưới đất [tức là Trung Quốc]; Thiên Hán = Ngân Hà 銀河)

[18] [LAM chú]: Khát vọng trở thành tiên, tức là được trường sinh bất tử, ám ảnh đông đảo quần chúng. Tương truyền rằng Tần Thủy Hoàng Đế, người thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công Nguyên, đã triệu vời nhiều kẻ phương sĩ (magicians) từ vùng duyên hải Đông Bắc Trung Quốc về triều đình để làm cố vấn cho vua về thứ linh dược ấy. Những kẻ phương sĩ như Lư Sinh 廬生, Từ Phúc 徐福 đã mê hoặc vua Tần. Lư Sinh giải thích cho vua Tần rằng Chân Nhân là bậc đi vào nước không ướt, vào lửa không cháy, đằng vân, cùng trường thọ với trời đất [lời giải thích này giống lời giải của Trang Tử trong chương Đại Tông Sư]. Tần Thủy Hoàng nghe xong, thích chí muốn trở thành Chân Nhân. Lư Sinh còn hiến kế rằng vua phải có hành tung bí mật thì mới mong tìm được thuốc trường sinh, thế là vua Tần ra lệnh xây 270 cung điện xung quanh Hàm Dương trong phạm vi 200 dặm. Cung điện nối nhau, màn trướng trống chiêng cùng gái đẹp vô số. Ai tiết lộ chỗ vua ngự sẽ bị chém đầu. Còn Từ Phúc thì thuyết phục vua làm những cuộc hải hành tìm đảo Bồng Lai, tìm tiên dược. Nhưng rồi họ đi lạc mãi không về. Bọn phương sĩ làm công việc triều đình hư hỏng, công quỹ hao tốn đến nỗi Lư Sinh phải đào tẩu. Việc này làm Tần Thủy Hoàng thịnh nộ. Cùng với việc bị đám nho sĩ đặt điều sàm báng chỉ trích, Tần Thủy Hoàng bèn chôn sống 460 người, cả bọn phương sĩ và đám nho sĩ tại Hàm Dương. Hai năm sau, vua đi thuyền ở vùng duyên hải lần nữa (có lẽ lại tìm thuốc trường sinh) nhưng ngọa bệnh và mất. Từ tư liệu về các chuyến hải hành tìm kiếm vô vọng các đảo thần tiên nói trên, nữ tác giả Henriette Mertz đã căn cứ thêm vào Sơn Hải Kinh 山海經 (viết khoảng 2250 tcn) và bản đồ châu Mỹ cổ đại và các cổ vật mang dấu vết văn hóa Trung Quốc cổ đại được khai quật ở châu Mỹ mà chứng minh rằng chính những người Trung Quốc như nhóm Từ Phúc đã khám phá ra châu Mỹ trước Columbus gần 4000 năm. Nghĩa là họ là thế hệ Hoa Kiều thứ nhất tại châu Mỹ. (Xem quyển Gods from the Far East: How the Chinese discovered America? (Thần minh từ viễn đông: Người Trung Quốc đã phát hiện châu Mỹ như thế nào?) của Henriette Mertz, Ballantine Books, New York, 1975).

[19] R. Wilhelm, Dschuang Dsi das Wahre Buch vom Südlichen Blütenland (Trang Tử Nam Hoa Chân Kinh), Jena, 1920, tr. 116; và Trang Tử tập thích 莊子集釋, Bắc Kinh, 1961, quyển 3, chương 15, tr. 535.

[LAM chú]: Nguyên văn chữ Hán (trong chương Khắc Ý): Xuy hu hô hấp, thổ cố nạp tân, hùng kinh điểu thân, vi thọ nhi dĩ hĩ; thử đạo dẫn chi sĩ, dưỡng hình chi nhân, Bành Tổ thọ khảo giả chi sở hiếu dã. 吹呴 呼 吸 , 吐故 納 新 ; 熊經 鳥 申 , 為壽 而 已 矣 ; 此導 引  之士 , 養形 之 人 , 彭祖 壽 考 者 之 所 好 也 . (Xuy hu: cũng viết là 吹噓 = hô hấp dài và sâu; Kinh = treo, đu, trèo; Điểu thân = [như] chim duỗi cổ và cánh). Chữ hùng kinh nhiều người dịch không giống nhau: Wilhelm dịch là ‘duỗi ra như con gấu’ (sich recken wie ein Bär) [sđd.]; James R. Ware dịch là ‘leo trèo như gấu’ (make the climbing movements of the bear) [The Sayings of Chuang Chou, New York, 1963, p.103]; Clae Waltham (phỏng theo James Legge) dịch là ‘trải qua thời gian như con gấu ngủ im’ (passing the time like the dormant bear) [Chuang Tzu: Genius of the Absurd, New York, 1971, p.183]; Nguyễn Hiến Lê dịch là ‘treo mình lên như con gấu’ [Trang Tử, nxb Văn Hóa, 1994, tr.318]; Vương Phu Chi giải là ‘như gấu leo cây’ (hùng kinh như hùng chi phan thụ 熊經如熊之攀樹) [Vương Phu Chi 王夫之, Trang Tử giải 莊子解, Đài Bắc, 1972, tr. 321]; Ninh Chí Tân dịch là ‘giống như con gấu vươn cổ lên’ (tượng lão hùng điếu cảnh 像老熊吊頸) [Đạo Giáo Thập Tam Kinh, quyển Thượng, Hà Bắc, 1994, tr.189]; Ngô Phong dịch là ‘dẫn khí giống như gấu leo cây’ (tượng hùng nhất dạng phan thụ nhi dẫn khí 像熊一樣攀樹而引氣) [Trung Hoa Đạo Học Thông Điển, tr.156].

Sở dĩ Trang Tử mỉa mai đạo dẫn, vì nơi đoạn văn tiếp theo ông cho rằng: «Không cần phải rèn ý chí (Khắc Ý) mà vẫn cao thượng; không đề xướng nhân nghĩa mà vẫn có thể tu thân; không truy cầu công danh mà vẫn trị thế được; không lánh giang hồ mà vẫn an nhàn được; không luyện đạo dẫn mà vẫn trường thọ; quên hết mà vẫn có đủ; điềm tĩnh cực điểm mà mọi điều hay đẹp đều tụ về mình, như vậy mới là đại đạo của trời đất và chân đức của thánh nhân.» Nghĩa là bất cố ý tạo tác mà sự tự nhiên thành.

[20] Tác giả Yü Ying-shih phân biệt hai quan niệm của Trung Quốc về sự bất tử. Quan niệm xa xưa mà các văn tự khắc trên đồ đồng xưa (gọi là chung đỉnh văn) đã chứng minh chỉ là sống lâu. Quan niệm về sau xuất hiện khoảng thời Xuân Thu (722-481 tcn) là bất tử. Vậy, Yü phân biệt sự bất tử tại thế (worldly immortality) với sự bất tử ở cõi khác (other worldly immortality) tức là thành Tiên . Xem Yü Ying-shih, Life and Immortality in Han-China (Sự sống và sự bất tử ở Trung Quốc đời Hán), đăng trong Harvard Journal of Asiatic Studies (Á học chuyên san của Đại học Harvard), vol. 25, Cambridge (Mass.), 1965, chú thích ở tr. 87.

[21] Holmes Welch, Taoism: The parting of the Way (Đạo chi phân kỳ), Boston, 1966, tr. 99. Tuy nhiên ở đây Welch nêu ra sự dị biệt riêng với các nguồn nói trên. Thí dụ như Lý Thiếu Quân muốn thành tiên sống nơi Bồng Lai chứ không muốn sự bất tử chung chung.

[22] Thí dụ vị trí của Đông Phương Sóc 東方朔 vẫn chưa rõ ràng trong Đạo giáo.

[23] Welch, sđd., 1966, tr. 123 và Werner Eichhorn, Bemerkungen zum Aufstand des Chang Chio und zum Staate des Chang Lu (Nhận xét về cuộc khởi nghĩa của Trương Giác và các quận trị của Trương Lỗ), đăng trong tạp chí của Institut für Orientforschung 3/2 (Viện Nghiên Cứu Đông Phương), Berlin, 1955, tr. 308, 309: «Thanh đàm (đàm đạo về những điều thanh tao: plaudereien über die Reinheit) về sau đã trở thành đặc điểm Đạo giáo của giới thượng lưu.»

Ở đây ta nên tham khảo thêm ý kiến của Đường Trường Nhu 唐長孺, Ngụy Tấn Nam Bắc Triều Sử Luận Tùng 魏晉南北朝史論叢, Bắc Kinh, 1955, tr. 290: Trong giai đoạn quá độ từ Ngụy đến Tấn, phái Thanh Đàm gắn liền với [tư tưởng] Lão Trang.

Về sự liên hệ giữa phái Thanh Đàm và Phật giáo, xem: Zürcher, The Buddhist Conquest of China (Phật giáo chinh phục Trung Quốc), Leiden, 1959, tr. 93.

[24] Welch, sđd., 1966, tr. 124. Welch mô tả Phong Lưu (wind-floating) là một phái vừa có tính chất đạo giáo nhiều hơn vừa có tính chất lãng mạn trữ tình nhiều hơn. Phái này trái ngược với Thanh Đàm là phái mang nhiều tính chất triết lý hơn. Đại biểu cho phái Phong Lưu là Trúc Lâm Thất Hiền 竹林七賢 (die sieben Weisen des Bambushaines: the Seven Sages of the Bamboo Grove).

[25] Maspero, Le Taoïsme et les religions chinoises, Paris, 1950, tr. 85-116; và Needham, Science and Civilisation in China, vol. 2, Cambridge, 1956, tr. 143.

[LAM chú]: Tác giả Homann tham khảo Maspero và Joseph Needham và cải biên một chút. Theo Maspero, có nhiều phương thức tu luyện khác nhau, nhưng đại khái có 3 loại chính:

Phục dược (absorption de drogues)

Hành khí thổ nạp (circulation du souffle)

Luyện đan (alchimie).

Rồi Maspero lại chia thuật tu tiên thành 2 giai đoạn:

a. Bước đầu tu luyện Tiên đạo phải tu tâm luyện đức, sống đời đạo đức và hành thiện (les premiers pas dans la voie de l’Immortalité = la vie morale et les ‘actes’ de vertue).

b. Luyện hình (pratiques physiologiques):

Luyện đan (pratiques alchimiques)

Tịch cốc (pratiques diététiques)

Hành khí thổ nạp (pratiques respiratoires)

Phòng trung thuật (pratiques sexuelles)

Đạo dẫn (pratiques gymnastiques).

Cách phân chia của Maspero cũng chưa rõ ràng. Bởi vì Luyện đan bao gồm cả nội đan và ngoại đan. Nội đan bao gồm việc luyện khí vận chu thiên, xem thân mình là tiểu thiên địa, cố theo Dịch Lý mà khẩu quyết là luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư, luyện hư hoàn vô 煉精化氣, 煉氣化神, 煉神還虛, 煉虛還無. Nhưng ngoại đan thì chủ yếu luyện ngoại dược làm thuốc trường sinh (tiên dược), bao gồm cả luyện đan sa và các dược thảo, như Cát Hồng 葛洪 đã nói trong Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 (chương Tiên Dược 仙藥): Phục linh 茯苓, mạch môn đông 麥門冬, câu kỷ 苟杞, thiên môn đông 天門冬, hoàng tinh 黃精, hồ ma 胡麻, quế , cam cúc 甘菊, tòng chỉ 松脂, v.v. Cho nên Maspero tách phục thực và phục dược ra khỏi luyện đan là không hợp lý.

Về 6 phép luyện sau, Homann tham khảo Needham (sđd., vol 2, tr. 143), đó là:

Luyện khí (Respiratory techniques)

Sái liệu pháp = Nhật bộc pháp (Heliotherapeutic techniques)

Đạo dẫn (Gymnastic techniques)

Phòng trung thuật (Sexual techniques)

Luyện đan và phục dược (Alchemical and pharmaceutical techniques)

Ẩm thực điều dưỡng (dietary techniques).

Đã thế thì phép tu luyện không chỉ có 7. Ta có thể kể thêm phép tắm nước nóng pha dược liệu (hương thang mộc dục 香湯沐浴), án ma pháp 按摩法, v.v. Thậm chí còn có cách tu riêng dành cho nữ phái mà đa phần bắt nguồn từ Tôn Bất Nhị nữ đan pháp 孫不二女丹法.

 » mục lục                     Xem bài tiếp: Xác định niên đại của Huỳnh Đình Kinh