PHẬT HỌC CHỈ NAM

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

» Mục lục | Tựa | Chương: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20


Chương 6

CHÂN TÂM, VỌNG TÂM 

 

 

Tối ngày 2/20/1989, trong khi thảo luận về Giải Thoát, đạo hữu Nguyễn Cao Triển đã đặt vấn đề như sau: Khi Tiểu Ngã đạt Tâm điểm hằng cửu của trời đất, sẽ làm gì sau đó? Đạo Hữu cho rằng suy tới đó, thấy kẹt, không thông sướng. Mỗi người bàn một cách. Sau đó mấy phút đột nhiên đạo hữu lại tự tìm được câu giải đáp: Nếu ta và vạn vật là một, thì làm gì có Tiểu Ngã. Thế là đạo hữu mặc nhiên đã giải được công án: «Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ» của Thiền Tông.

Nhận định rằng vấn đề Tiểu Ngã, Đại Ngã là một vấn đề tối ư quan trọng của Đạo Phật nói riêng, và của các đạo giáo nói chung, nên bữa nay tôi đem vấn đề này ra trình bày.

Đối với tôi:

– Khi con người còn là chúng sinh, chỉ thấy mình là một Tiểu Ngã, sống trong hoàn võ bao la, mà vẫn chỉ ôm ấp được một bầu tâm sự riêng tư, những ước mơ hạn hẹp, xa lạ với tha nhân, với quần sinh và vũ trụ.

– Khi con người giác ngộ là khi thấy được Chân Tâm, Chân Ngã, Bản Lai diện mục nơi mình.

– Tất cả công trình tu trì tinh tiến chỉ là một công chuyện đấu tranh, một công chuyện chọn lựa giữa Chân Tâm và Vọng Tâm; Chân Ngã và Vọng Ngã.

Chân Tâm thời quang minh chính đại, vĩnh cửu thường hằng, uy nghi trang trọng; Vọng tâm thời ám muội, tà khuất, biến thiên, sinh tử, thấp kém hèn hạ, người tu học sẽ chọn bên nào? Dĩ nhiên là phải chọn Chân Tâm. Thế là Bất Nhị Pháp Môn, thế là Trung Đạo.

– Đắc đạo, thoát luân hồi là khi nhận chân rằng: Vọng Tâm thực ra chỉ là một ảo ảnh, một ngưng kết của Vô Minh, và lập tức phải trút bỏ nó. Từ đó chỉ sống bằng Chân Tâm, bằng Tâm vô lượng chính đẳng chính giác, chứ không sống bằng các «tướng đoạn diệt» nữa. (Xem Kim Cương kinh, chương 27: Vô đoạn vô diệt).

Cho nên các bậc siêu nhân xưa nay thường có cái nhìn vĩnh cửu, cái tâm đại đồng.

Tô Đông Pha trong bài Tiền Xích Bích phú đã viết:

Từ biến chuyển nhìn ra trời đất,

Thì đất trời phút chốc đã qua.

Từ trong bất biến nhìn ra,

Muôn loài muôn vật như ta vô cùng...  

Trang Tử viết trong Nam Hoa Kinh:  

Ta và trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.

(Nam Hoa Kinh, Tề vật luận). 

Ông cũng còn nói: «Duy đạt giả tri thông vi nhất.» 唯 達 者 知 通 為 一 (Chỉ có người đạt đạo mới dung thông hòa hài nên như một cùng vũ trụ). (Nam Hoa Kinh, Tề vật luận.)

Người đạt đạo có cảm nghiệm rằng cái vọng tâm riêng rẽ đã chết đi, chỉ còn có Đại Ngã sống động trong mình.

– Đạo Phật gọi thế là Diệt Ngã 滅 我.

– Đạo Lão gọi thế là «Tâm tử thần hoạt» 心 死 神 活.

– Công giáo gọi thế là: «Bỏ mình» (Mat. 16:24)

– Thánh Paul viết: «Tôi sống chẳng phải là tôi sống mà là Chúa sống trong tôi.» (Galates 2:20).

– Nho gọi thế là: Nhân dục tận, Thiên lý hiện.

– Kinh Coran Hồi giáo viết: “Chúa là đầu, là cuối, là trong, là ngoài. Ngài hay biết mọi sự. (Koran, LVII Mecca)

Nếu Chúa là trước là sau, là trong là ngoài thì dĩ nhiên là đã chiếm hết chỗ của cái Tôi!

– Kinh Áo Nghĩa Thư, Bà La Môn viết:

Kìa sông tới biển thời tiêu,

Hết danh, hết sắc, hết điều riêng tây.

Trở thành biển cả từ nay,

Gọi là biển cả mảy may khác gì.

Con người nhìn lại cũng y:

Khi "mười sáu bộ" đã qui về Ngài,

Còn đâu danh tướng lôi thôi,

Rồi ra cũng chỉ là ngôi Chân Thần.

Thế là vĩnh cửu bất phân,

Chẳng còn bộ phận, còn thuần tinh hoa.

Đã điều qui tụ hiệp hòa,

Như đũa liền trục, ắt là Chân Nhân.

Chân nhân là chính Chân Thần,

Tử sinh thôi hết bận tâm lo lường.

(Prasna 6.5-6. Brih. 4.4.1-2.) 

Tất cả các Kinh Phật chỉ có 2 mục đích:

– Một là chứng minh không có Tiểu Ngã. Cho nên tưởng mình có Tiểu Ngã là một cái nhìn điên đảo.

– Hai là dạy con người tìm cho ra Bản Tâm, bản Tính.

Bác Sĩ Lê Đình Thám, trong Lời nói đầu của Kinh Lăng Nghiêm, đã viết: «Chư Phật ra đời chỉ nhằm mục đích là dạy bảo, chỉ bày cho chúng sinh giác ngộ và thật chứng Pháp Giới Tính như Phật. Pháp giới tính là tính bản nhiên của tất cả sự vật, nghĩa là của tất cả các chuyển động và các hiện tượng trong vũ trụ...  

«Then chốt nhân quả là Pháp Giới Tính trùng trùng duyên khởi, nghĩa là một sự vật duyên tất cả sự vật; tất cả sự vật duyên một sự vật; trong một có tất cả; trong tất cả có một; một tức là tất cả; tất cả tức là một. Tính ấy gọi là tính chân như, là thật tướng là Phật tính, là Như Lai tạng tính, là Pháp tính, là tâm tính v.v...  

«Tính ấy bình đẳng, không thật có sinh, có diệt, có người, có mình, có tâm, có cảnh, có thời gian, có không gian, không thấp, không cao, không mê, không ngộ; tính ấy duyên khởi ra tất cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng thời cũng tức là bản tính của tất cả sự vật không hề thay đổi...  

«Tam thế chư Phật, chư Đại Bồ Tát, thật chứng và nhập một với Pháp Giới Tính nên phát khởi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, hiện ra vô số thân, theo duyên hóa độ vô lượng vô biên chúng sinh, nhưng vẫn không có gì ra ngoài Pháp giới tính. Chúng sinh chưa chứng được Pháp giới tính, nên theo duyên mà luân hồi trong lục đạo. Nhận thức khác nhau nên chỗ thụ dụng của Phật và của chúng sinh khác nhau, nhưng Pháp giới tính vẫn như vậy, không thêm, không bớt... »

Câu Xá Tông (Koucha-shu) chủ trương không có bổn ngã, tức là không có Vọng Tâm, không có Tiểu Ngã. Tại sao vậy? Vì cái gì là hiện tượng, đều ở trong vòng biến thiên, sinh tử luân hồi, đều là hình danh sắc tướng hữu hạn biến thiên.

Mã Minh Bồ Tát, tổ 12 trong nền Phật Giáo Ấn Độ (thế kỷ 2 Dương Lịch) được tổ 11 là Phú Na Dạ Xa dạy rằng: Trong Pháp Phật nên phân biệt hiển giáo (exotérisme) và mật giáo (ésotérisme). Theo hiển giáo người ta dạy cho cư gia thiện nam tín nữ, dường như có một cái bổn ngã (le moi). Còn theo mật giáo người ta không công nhận sự sống thật, người ta dạy rằng tất cả đều là giả dối, bào ảnh, thì đâu có chỗ nào cho cái Bổn ngã dựa nương? Mã Minh rất hài lòng bèn qui y tam bảo, thọ giới, xuất gia... [1]

Sau này Ngài có viết quyển Đại Thừa Khởi Tín Luận. Quyển sách này đã được Đường Pháp Tàng bình giải, và đã được bình dịch bằng tiếng Việt, nơi bộ Phật Học Phổ Thông, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Khóa thứ X, XI. Chủ đề của bộ luận trên là bàn sâu rộng về Chân Tâm và Vọng Tâm. Chân tâm thời có đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh; còn Vọng tâm thời được mô tả là tâm sinh diệt. Tôi đọc Đại Thừa Khởi Tín Luận bằng tiếng việt khoảng tháng 4 năm 1989, vào đọc chính bản bằng Hán Văn vào tháng 5, 1989, nhưng từ 1964, khi đọc kinh Lăng Nghiêm tôi đã khẳng định rằng: Muốn hiểu triết lý Phật Giáo, điều kiện tiên quyết là hiểu rành Chân Tâm và Vọng Tâm nơi con người. Ngày nay đọc bộ luận của Mã Minh, tôi hết sức vui mừng vì cái nhìn sơ khởi của tôi về Phật Học đã hoàn toàn đúng với lời giảng giáo của chư Phật.

Tóm lại, Mã Minh Bồ Tát, khi chưa xuất gia, mới chỉ sống bằng Vọng Tâm, nên thấy mình còn như thiếu thốn cái gì, vì thế mới qui y, mới xuất gia để cầu đạo. Sau khi xuất gia, Ngài đã chứng ngộ Chân tâm và thành Tổ thứ 12. Kinh Kim Cương viết: «Nếu Bồ Tát còn chấp có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức không phải là Bồ Tát.» [2] Nói thế có nghĩa là bao lâu con người còn thấy mình chỉ có vọng tâm, vọng ngã, bấy lâu con người chưa đạt tới giác ngộ.

Truyền Tâm ấn tức là dạy cho nhau biết Bản tâm mình là Phật, Chân Tướng mình là Như Lai Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang...

Tâm ấn mà đức Phật xưa truyền cho Ca Diếp là: «Ngô hữu Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thật Tướng Vô Tướng, Vi Diệu Pháp Môn, kim phú Ma Ha Ca Diếp.»

Nói thế nghĩa là: Trong ngươi đã sẵn có Tâm Vô Thượng Chính Đẳng chính giác. Cho nên ngươi chớ ôm ấp những cái tướng đoạn diệt nơi ngươi, những gì phù vân, hư ảo nơi ngươi, tức là ngươi hãy thoát khỏi các vỏ kén Tiểu Ngã, để mà vươn lên tới vô cùng. [3]

Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán, sang Việt Nam truyền đạo vào cuối thế kỷ VI. Trước khi viên tịch, Ngài gọi đệ tử là Pháp Hiển vào phòng phú chúc rằng: «Tâm ấn của Phật, không thể mập mờ được. Tâm ấn viên mãn như Thái Hư không thừa, không thiếu, không đến, không đi, không được, không mất, không phải đồng nhất, cũng không phải sai biệt, không thường cũng không đoạn, không sanh cũng không diệt, không xa cách cũng không phải không xa cách. Chỉ vì đối với vọng nên giả đặt ra tên ấy (tâm ấn) mà thôi.» [4]

Như vậy truyền Tâm ấn tức là truyền dạy Chân Tâm.

Thiện Hội thiền sư hỏi sư phụ là Cảm Thành thiền sư: «Trong kinh Phật có dạy: "Đức Thích Ca Như Lai từng tu hành trải vô số kiếp mới thành Phật", thế mà nay thày cứ dạy rằng: "Tâm tức là Phật, Phật tức là Tâm" là nghĩa làm sao?» Cảm Thành thiền sư trả lời: «Ngày xưa có người hỏi Mã tổ rằng: "Nếu bảo tâm ấy là Phật, thì trong tâm ấy cái gì là Phật?" Mã Tổ trả lời: "Thế ông ngờ trong tâm ấy cái gì không phải là Phật, hãy chỉ vào đấy cho ta xem?" Người ấy không chỉ được. Mã Tổ lại tiếp: "Đạt được thì khắp nơi chỗ nào cũng là Phật, mà không đạt được, thì cứ sai lầm đi mãi mãi". Thế là chỉ vì một lời nói nó che đi, mà thành ra sai lầm đó thôi. Ngươi đã hiểu chưa?» Ngài Thiện Hội trả lời: «Nếu vậy đệ tử hiểu rồi.» – «Ngươi hiểu thế nào?» – «Đệ tử hiểu rằng khắp hết mọi nơi, chỗ nào cũng là tâm Phật cả.» Nói xong Thiện Hội thiền sư sụp xuống lạy. Ngài Cảm Thành nói: «Thế là ngươi hiểu tới nơi rồi.» [5]

 Chủ yếu của Kinh Lăng Nghiêm là bàn về Chân Tâm và Vọng tâm.

Sống theo Vọng tâm là Luân Hồi.

Sống theo Chân Tâm là Niết Bàn.  

Chương Ba kinh Lăng Nghiêm dạy: «Ông nay muốn đặng Đạo vô thượng Bồ Đề, thì điều cần nhất là phải hiểu hai thứ căn bản:

1. Một là căn bản sanh tử luân hồi là Vọng Tâm.

2. Hai là Căn Bản của Bồ Đề Niết Bàn là Chân Tâm.

Nếu ông nhận lầm căn bản sinh tử (Vọng tâm) làm nhân tu hành, thì không bao giờ giải thoát. Cũng như ngươì nhận giặc làm con, thì chỉ thêm bị phá hoại gia sản mình mà thôi. Và cũng như người nấu cát thành cơm, dầu trải qua bao nhiêu năm cũng chẳng thành cơm được...  

Cái gì biến thiên, cái gì lệ thuộc vào ngoại cảnh, cái gì là suy nghĩ phân biệt, cái gì là vọng tưởng phân biệt, tất cả những cái đó là Vọng Tâm.

Phật dạy: Cái gì có co, có mở, có động, có tĩnh, có sinh có diệt, cái đó là "khách", là vọng...  Cái gì không có động tĩnh, không có co mở, không sinh không diệt, thì cái đó mới là Chân, là Chủ, là Chính ông.» (Lăng Nghiêm Chương 3).

«Tại sao từ hồi nào đến giờ, các ông cứ nhận cái vọng thân tứ đại giả hợp này cho là thật thân mình; cái vọng tưởng sinh diệt này cho là thật tâm mình; cảnh vật giả tạm cho là thật «cảnh» của mình, mà lại bỏ cái Chân Tâm thường còn bất sinh, bất diệt của mình sẵn có kia đi? Bởi thế nên các ông phải nhiều kiếp sinh tử luân hồi, thật là rất oan uổng.» (Kinh Lăng Nghiêm, Chương 3).

Phật dạy thêm: «Ta thường nói “các pháp do tâm biến hiện, cho đến thân và tâm ông ngày nay cũng đều là vật ở trong chơn tâm hiện ra”. Tại sao các ông lại vứt bỏ cái bản thể chơn tâm đi. Các ông vẫn ở trong ngộ (Chân tâm) mà trở lại đành ôm lấy cái mê vọng làm mình. Điên đảo là đó. Thật đáng buồn thương!» (Kinh Lăng Nghiêm chương 4.)

Lời khuyên then chốt của Kinh Lăng Nghiêm là: «Các ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chân tâm thanh tịnh không sanh diệt; phải lấy chân tâm không sanh diệt này làm nhân địa tu hành, thì sau mới chứng được Phật quả thường trụ.» (Kinh Lăng Nghiêm, chương X)

Trong Thiền Tông, thì Thần Tú là người chủ trương chấp nhận có tâm sinh diệt, và cố gắng chùi rửa cái tâm sinh diệt ấy, để cầu mong thành Phật.

Bài kệ của ông là:

Thân thị bồ đề thụ,                

Tâm như minh kính đài,        

Thời thời cần phất thức,        

Vật sử nhạ trần ai.                   使

Chuyển dịch:  

Thân là cây Bồ Đề,

Tâm như đài gương sáng.

Thường ngày hằng chau chuốt,

Chớ cho dính trần ai!  

Huệ Năng là người đã đạt tới Chân Tâm, đã sống trong chân thường khinh khoát của Bản tâm bản tính.

Ông giác ngộ khi nghe câu kinh Kim Cương: «Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.» 應 無 所 住 而 生 其 心  (Vào nơi Vô trụ, chứng vô biên.)

Bài kệ của ông là:

Bồ đề bản vô thụ              

Minh kính diệc phi đài       

Bản lai vô nhất vật            

Hà xứ nhạ trần ai?             

Chuyển dịch:  

Bồ đề vốn không cây,

Tâm há đài gương sáng.

Xưa nay không một vật,

Nơi nào bám trần ai. 

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn khi đọc xong cả hai câu kệ, bề ngoài thời cố ý khen lao bài kệ của Thần Tú, và xóa bỏ bài kệ của Huệ Năng. Nhưng Ngài gọi Thần Tú vào mà dạy riêng rằng:

Nhà ngươi làm kệ này, chưa thấy được Bản tính, mới ở ngoài cổng, chưa vào được trong nhà. Với cái nhìn, cái biết ấy làm sao đạt được Vô Thượng Bồ Đề. Ngài truyền Huệ Năng vào gặp Ngài lúc canh ba, lấy áo cà sa choàng cho, và giảng kinh Kim Cương. Đến câu «ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm», Huệ Năng liền đại giác, đại ngộ, và ứng khẩu đọc rằng:

Hà kỳ tự tính bản tự thanh tịnh,             何 其 自 性 本 自 清 凈

Hà kỳ tự tính bản bất sinh diệt,              何 其 自 性 本 不 生 滅

Hà kỳ tự tính bản tự cụ túc,                    何 其 自 性 本 自 具 足

Hà kỳ tự tính bản vô động dao,             何 其 自 性 本 無 動 搖

Hà kỳ tự tính năng sinh vạn pháp...       何 其 自 性 能 生 萬 法 

Mới hay Bản tính vốn thanh tịnh,

Mới hay Bản tính vốn trường tồn,

Mới hay bản tính vốn viên mãn,

Mới hay Tự tinh vốn tĩnh lãng,

Mới hay Tự tính sinh muôn vật.  

Khẩu khí Huệ Năng chứng tỏ Ngài đã đạt Chân Tâm thường trụ của đất trời. Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã chứng ngộ được Chân Tâm, Bản Tính, bèn nói: «Nếu không biết được Bản Tâm, thời học Pháp cũng vô ích. Nếu biết được Bản tâm, thấy được Bản tính, tức gọi là Trượng phu, là Thiên Nhân Sư Phật.»

Sau đó Ngũ Tổ truyền Y bát cho Huệ Năng.

Tôi có một ông bạn, là Tiến Sĩ Nguyên Tử Lực, Phạm Khắc Hàm. Tôi không quí ông vì cái bằng Tiến sĩ của ông, nhưng quí ông vì ông là người say sưa tu học đạo Phật và đã đặt cho mình cái Đạo hiệu là Vô Ngã.

Từ nhiều năm nay, tôi cố diệt Vọng Tâm, Phàm tâm, và sống bằng Chân Tâm.

Trong bài Bàn Về Chân Lý của tôi, tôi đã viết như sau:

Nói về Chân Lý, bàn về Chân Giả, mới đầu tưởng chỉ ở nơi ngoài xã hội, nơi sách vở bên ngoài, cuối cùng té ra không phải vậy.

Công cuộc suy tư tìm hiểu đâu là Chân, đâu là Giả trong con người chúng ta càng ngày càng làm ta rùng mình: Rốt ráo, phần lớn nơi con người chúng ta đều là giả cả. Cái gì thuộc hình danh sắc tướng nơi chúng ta đều là giả. Thế là chúng ta phải vất đi một mớ lớn các cái giả về xác thân. Tiếp đến cái gì biến thiên cũng đều là giả cả. Thế là suy tư, niệm lự, thất tình lục dục cũng đều bị kiểm kê là giả. Rồi đến tất cả những gì hữu hạn cũng đều là giả, cho nên tất cả những ý niệm về luyến ái gia đình, quốc gia, chủng tộc, nhìn theo nhãn quan siêu việt cũng đều là hư ảo, hão huyền. Chúng chỉ làm chật hẹp tâm vô lượng của ta mà thôi.

Rút cục, chỉ còn Bản Thể Chân Thường hằng cửu nơi chúng ta mới được tuyên bố là Chân thực, là Chân Lý. Mà Cái Đó lại là của chung trời đất chứ chẳng phải của riêng ta. Cho nên cái ta chẳng còn gì, cũng bị phế là giả luôn.

Đến đây, tôi thấy mình chẳng còn gì nữa, vì cái mình riêng tư suy cho kỹ chỉ là hư ảo. Thảo nào mà người xưa dùng chữ Tứ đại giả hợp, hay chữ Vọng Tâm, Vọng Niệm, Vọng Ngã, để chỉ cái Tôi nhỏ bé của chúng ta. Nên tôi làm chúc thư để đời như sau:

– Thân xác tôi rút cuộc là những nguyên tử khinh khí, Dưỡng Khí, Đạm Khí, Thán Khí hợp lại mà thành. Khi tôi thoát tục sẽ trả chúng về muôn phương; và cho chúng toàn quyền đi xum họp chỗ khác, lập tổ ấm nơi khác.

– Tân dịch, máu huyết tôi trả về sông biển, trả về cho mây mưa.

– Cái gì là không khí, là «hồn» tôi trả về cho không trung vô hạn.

– Cái gì là quang, là Thần, tôi cho nó nhập lại với nhật nguyệt, tinh cầu.

– Còn lại Linh Giác, Linh Tri vì chính là thuộc Bản thể của vũ trụ, nên dĩ nhiên sẽ y cựu thuộc về Bản thể vũ trụ: chưa có tôi, chẳng hề tăng; có tôi rồi cũng chẳng hề giảm.

Để kết luận, ta nhận thấy:  

– Sống bằng vọng tâm tức là sống bằng cái tâm phân biệt: có nhĩ có ngã. có tiểu, có đại, có thân, có sơ.

– Sống bằng vọng tâm tức là luân lạc trong vũ trụ hiện tượng biến thiên, sinh tử luân hồi.

– Sống bằng vọng tâm tức là sống trong vòng hữu hạn của không gian thời gian, tưởng chừng như có quá khứ, hiện tại, vị lai; sống trong không gian có đẹp, có xấu, có sướng có khổ.

– Sống bằng vọng tâm tức là sống trong những thế giới hư ảo hão huyền, hư hư, thực thực. 

– Đạt Chân Tâm, sống bằng Chân Tâm tức là sống bằng Tâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, bằng Tâm A Lậu Đa Na, Tam Miệu Tam Bồ Đề theo thuật ngữ của Kinh Kim Cương.

– Sống trong Chân Tâm tức là sống trong Chân Thường, Hằng Cửu, sống trong Chân Thực, Hiện tiền.

– Sống trong Chân Tâm tức là sống trong Giải thoát: Thoát khổ, thoát chết, thoát già nua bệnh hoạn, vì Chân tâm đã là trường sinh vĩnh cửu, đã là nguồn sống vô tận của trời đất thì làm gì còn sinh diệt.

– Sống trong Chân tâm tức là sống trong cảnh giới vô phân biệt, trong Bất Nhị Pháp Môn.

– Sống trong Chân Tâm tức là sống trong vô cùng vô tận, vượt tầm không gian, thời gian...  

Kinh Lăng Nghiêm viết: «Còn ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với Chân Tâm thường trụ, bất sanh, bất diệt, biến khắp các pháp giới. Cho nên ta mới được tự tại vô ngại; ở trong một, hiện ra vô số lượng; vô lượng hiệp làm một; trong nhỏ hiện lớn; trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh sáng suốt, nên mới được như vậy.» (Kinh Lăng Nghiêm, Chương Tám).


CHÚ THÍCH

[1] Đoàn Trung Còn, Phật Học Từ Điển I, tr. 279-280.

[2] Kim Cương Kinh, Chương 27: Cứu cánh vô ngã.

[3] Kim Cương Kinh chương 27, chương 5, chương 32.

[4] Phật Học Tùng Thư, Phật học phổ thông V, tr. 149.

[5] Phật học tùng thư, Phật học phổ thông, tr. 153-154.


» Mục lục | Tựa | Chương: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20