TRUNG DUNG TÂN KHẢO

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

QUYỂN II: TRUNG DUNG BÌNH DỊCH

» Mục lục » Tựa của Chu Hi » Chương: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13

14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31  32  33


Chương 10

HAI ĐƯỜNG LỐI ĐẠO ĐỜI:

SỨC MẠNH TINH THẦN & SỨC MẠNH THỂ CHẤT

 子 路 問 強. 子 曰: 南 方 之 強 與? 北 方 之 強 與? 抑 而 強 與? 寞 柔 以 教 ,不 報 無 道 :南 方 之 強 也. 君 子 居 之. 衽 金 革, 死 而 不 厭: 北 方 之 強 也 而 強 者 居 之. 故 君 子 和 而 不 流. 強 哉 矯. 中 立 而 不 倚. 強 哉 矯. 國 有 道, 不 變 塞 焉. 強 哉 矯. 國 無 道 ,至 死 不 變. 強 哉 矯 .

PHIÊN ÂM

Tử lộ vấn cường. Tử viết: «Nam phương chi cường dư ? Bắc phương chi cường dư ? Ức nhi cường dư ? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo: Nam phương chi cường dã. Quân tử cư chi. Nhẫn kim cách, tử nhi bất yếm: Bắc phương chi cường dã cường giả cư chi. Cố quân tử hòa nhi bất lưu. Cường tai kiểu ! Trung lập nhi bất ỷ. Cường tai kiểu ! Quốc hữu đạo, bất biến tắc yên. Cường tai kiểu ! Quốc vô đạo, chí tử bất biến. Cường tai kiểu ! »

CHÚ THÍCH

- Nhi = Nhữ = mày. - Nhậm = Nằm lên trên.

- Kim = Khí giới bằng sắt (thí dụ: giáp trụ, qua, mâu đao, kiếm). - Cách = Đồ da (giáp, trụ có nơi làm bằng da). - Lưu = theo thời (= xu thời đầu cơ 趨 時 投 機 ).

- Tắc = bất đạt (lúc còn hàn vi, khi sự nghiệp chưa thành, chí bình sinh chưa thỏa).

DỊCH CHƯƠNG 10

Hai đường lối đạo đời:

 Sức mạnh tinh thần và sức mạnh thể chất

Tử Lộ đem cường dũng làm đề tài vấn nạn.

Đức Khổng đáp:

 «Hỏi thứ nào ? Hảo hớn Bắc hay Nam ?

Hay cường dũng ngươi, ngươi muốn được luận bàn?

Luôn êm đềm, khoan dung mà chỉ giáo,

Người vô đạo, ta không màng ác báo.[1]

Đó là hùng dũng kiểu Nam phương,

Đó là lối đường người quân tử.

Thích đao binh, mình kè kè giáp trụ,

Chốn sa trường chết bỏ cũng không sao.

Ấy dũng Bắc phương của chiến sĩ hùng hào.

Người quân tử ôn hòa, không phụ họa,

Hùng dũng thay, ôi hùng cường cao cả.

Theo Trung Dung một dạ chẳng ngả nghiêng;

Ôi hùng dũng, kể sao xiết ngang nhiên!

Nước có đạo, lòng trung kiên chẳng đổi,

Hàn vi hay hiển đạt, vẫn không thay đường lối:

Hùng dũng thay, kể sao xiết oai hùng!

Lúc nước nhà vô đạo, loạn lạc lung lay,

Dẫu muốn thác cũng không rời đạo cả.

Hùng dũng thay, ôi hùng cường khôn tả [2]

BÌNH LUẬN

Bình luận chung các chương 6, 7, 8, 9, 10:

Sau khi đã vạch rõ hai lối đường quân tử và tiểu nhân, sau khi đã cho thấy Trung Dung cao siêu, toàn mỹ, khó biết, khó theo, đức Khổng đưa ra ba điều kiện để đạt tới Trung Dung.

Đó là: TRÍ , NHÂN , DŨNG .

Trí như vua Thuấn, nhân như Nhan Hồi, dũng như Tử Lộ.

TRÍ : Trí như vua Thuấn để luôn học hỏi, suy tư, quan sát. Sự suy tư luôn phải kèm theo sự học hỏi, như vậy mới có ích. Đức Khổng nói: «Trước đây ta mảng trầm tư mặc tưởng mà trọn ngày quên ăn, trong đêm không ngủ. Không có ích. Chẳng bằng học.» [3]

Có suy tư mới trở nên thông tuệ được. Kinh Thư viết: «Tư viết duệ ... Duệ tác thánh.» [4] Lại viết: «Duy thánh võng niệm tắc cuồng duy, cuồng khắc niệm tác thánh.» [5] (Thánh mà bỏ suy niệm sẽ thành cuồng nhân; cuồng nhân chịu suy niệm sẽ thành thánh.)

Theo Trình Y Xuyên (Trình Di, 1033-1107), muốn cùng lý cần suy nghĩ chín chắn. Vì thế Y Xuyên nói không suy nghĩ chín chắn ắt không thể đến được cõi đạo lý.[6] Không suy nghĩ chín chắn mà đắc đạo thì sự được ấy dễ mất.[7] Tư lự lâu ngày, sự minh duệ tự nhiên sinh ra.[8]

Nhưng quan sát, học hỏi, suy tư không phải là để thâu thái thêm kiến văn, kiến thức, mà chính là để dần dần khai thông nguồn mạch tâm thần mình, để đi từ tiểu trí đến đại trí, từ kiến văn đến tự đắc, mặc thức tâm thông, từ suy luận thông thường đến trực giác.

Trình Y Xuyên viết: «Đại phàm học vấn do sự nghe biết, đều không thể gọi là tự đắc. Kẻ tự đắc nên mặc thức tâm thông… Nghe thấy mà biết, không phải là sự hiểu biết của đức tính. Sự hiểu biết của đức tính không mượn ở kiến văn.» [9]

NHÂN : Nhân là gặp điều lành phải biết chắt chiu gắn bó. Thượng Thái nói: «Sự đại yếu của người học nơi cửa Thánh là lấy việc khắc kỷ làm gốc.[10]

Lấy sự hàm dưỡng và học vấn làm hai phương pháp chủ yếu của người học đạo. Y Xuyên đã cho rằng: Hàm dưỡng nên dụng sự thành kính, còn tiến học thì tại trí tri.[11]

Vì vậy nếu người ta muốn tồn thiên lý, khử nhân dục, thì phải biết giữ lấy điều nhân, và làm cho nó càng ngày càng tăng trưởng. Khi mà trong tâm của người ta chỉ còn có thiên lý, không một mảy may nhân dục, thì lúc tĩnh ắt hợp với điều trung, lúc động ắt hợp với điều hòa. Vì thế những mối thiện ác chính tà của lòng người chỉ kết thúc trong mấy chữ thiên lý nhân dục. Thuận theo thiên lý thì gọi là đạo tâm; thuận theo nhân dục là nhân tâm.[12]

DŨNG : Sau cùng phải cần đến dũng. Dũng là sức mạnh tinh thần để vượt hết trở lực mà tiến bước trên con đường đạo lý. Trung Dung cho rằng cái dũng của người quân tử cốt tại:

- Khoan dung với người; hòa ái dạy người.

- Không báo oán kẻ đã hại mình.

- Chuyên nhất trên đường nhân nẻo đức.

- Hàn vi hay hiển đạt không thay lòng dạ.

- Gặp lúc nước nhà lao lung hay nguy hiểm, đảo điên, vô đạo, vẫn trọn một niềm giữ vẹn đạo trời, không để cho ngoại cảnh lung lạc hay làm hoen ố tâm hồn.

Trí, nhân, dũng của quân tử khác xa trí xảo, tài cán, uy vũ của người đời. Người đời bon chen trên đường danh lợi, dùng tài cán để chinh phục ngoại cảnh, phô trương sức mạnh cơ khí vật chất, vượt gian lao để đạt tới những thành công nhất thời.

Họ vụ những thành công nhãn tiền, nên không thể theo con đường Trung Dung, tức là con đường nội tâm cao siêu, ẩn áo, không mang lại cho họ những lợi lộc bên ngoài.


CHÚ THÍCH

Danh ngôn đối chiếu:

[1] - Il met son bon plaisir dans la fidélité et la douceur.

(L’Ecclésiaste 1,27; La Bible de Jérusalem)

- Mieux vaut Sagesse que force.

(L’Ecclésiaste 9,16; La Bible de Jérusalem)

[2] Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường. 勝 人 者 力 自 勝 者 強 (Đạo Đức Kinh, ch.33)

Thắng người khác đã đành rằng khỏe,

Tự thắng mình, mới kể hùng cường.

[3] Tử viết: Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư. Vô ích. Bất như học dã. 子 曰: 吾 嘗 終 日 不 食 終 夜 不 寢 以 思. 無 益. 不 如 學 也. (Luận Ngữ, Vệ Linh Công [ch.15], #30)

[4] Thư Kinh, Hồng Phạm, 6: 思 曰 睿... 睿 作 聖.

[5] Thư Kinh, Đa phương, 17: 惟 聖 罔 念 作 狂 惟 狂 克 念 作 聖.

[6] Bất thâm tư tắc bất năng tháo ư đạo. 不 深 思 則 不 能 造 於 道.

[7] Bất thâm tư nhi đắc giả, kỳ đắc dị thất. 不 深 思 而 得 者 其 得 易 失.

[8] Tư lự cửu hậu duệ tự nhiên sinh. 思 慮 久 後 睿 自 然 生. (Bửu Cầm, Tống Nho, Chu Hi, tr.93)

[9] Đại phàm học vấn văn chi tri chi, giai bất vi đắc. Đắc giả tu mạc thức, tâm thông… văn kiến chi tri phi đức tính chi tri. Đức tính chi tri bất giả kiến văn. (Bửu Cầm, Tống Nho, tr.937)

[10] Thánh môn học giả, đại yếu dĩ khắc kỷ vi bản. Khắc kỷ phục lễ, vô tư tâm yên, tắc thiên hĩ. (Bửu Cầm, Tống Nho, tr.99)

[11] Ibid., tr.92.

[12] (Bửu Cầm, Tống Nho, Chu Hi, tr.144)


» Mục lục » Tựa của Chu Hi » Chương: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13

14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31  32  33