HẠ KINH
Nhân Tử
Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê
»
Dịch Kinh Đại Toàn | Quẻ
31 32
33 34
35 36
37 38
39
40 41
42 43
44
45
46
47
48 49
50 51
52
53 54
55 56
57
58 59
60 61
62
63 64
60.
水
澤 節
THỦY TRẠCH TIẾT
Tiết Tự Quái |
節 序 卦 |
Hoán giả ly
dã. |
渙 者 離 也 |
Vật bất khả
dĩ chung ly. |
物 不 可 以 終 離 |
Cố thụ chi
dĩ Tiết. |
故 受 之 以 節 |
Tiết Tự
Quái
Hoán là xẻ nghé,
tan đàn, phôi pha.
Chia ly, ly mãi
ru mà.
Cho nên đến
Tiết, Tiết là chừng thôi.
Hoán là ly tán. Sự đời không thể ly tán mãi,
cần phải được tiết chế. Vì thế sau quẻ Hoán là quẻ Tiết. Tiết là điều
hòa, là tiết chế. Điều hòa để
con người chúng ta hòa điệu cùng hoàn cảnh xã hội, nhân quần và vũ
trụ. Tiết chế để cuộc đời chúng ta sống trong kỷ luật, mực thước hợp
với lẽ thiên nhiên. Riêng đối với con người, muốn có một đời
sống hợp tình, hợp lý, hợp cảnh, hợp thời, một đời sống thảnh
thơi, hạnh phúc, cần phải hiểu rõ quẻ Tiết.
I. Thoán.
Thoán từ.
節
. 亨 .
苦 節 不 可 貞 .
Tiết. Hanh.
Khổ tiết bất khả trinh.
Dịch.
Tiết là
có độ, có chừng,
Có chừng, có mực hanh thông êm dầm.
Tiết mà cay
đắng cho thân,
Thì đâu phải
chuyện thế nhân thường lề.
Tiết tức là biết
tiết chế, biết điều khiển, chỉ huy cuộc đời mình. Như
vậy, cuộc đời mình sẽ được xong xả (Tiết hanh). Còn như không
hiểu chữ Tiết cho phải, lại tưởng Tiết là chịu khổ, chịu cực
(Khổ Tiết), rồi cứ thế gò bó mình vào những khuôn khổ chật hẹp,
những kỷ luật khắt khe, như thế làm sao mà chịu cho lâu được (Bất
khả trinh).
Nói đến hai chữ
Khổ Tiết, làm ta liên tưởng đến những người vì muốn tu trì, mà
đã đi vào con đường khổ hạnh; nhin đói, nhịn khát, chịu nóng, chịu
lạnh, thức đêm, thức hôm, gia dĩ còn đánh đập thân xác, coi thân xác
như là thù địch. Những sự vi phạm định luật của Trời đất ấy đã làm
cho nhiều người trở thành những tội nhân, những tù nhân, sống một cuộc
đời khổ sai chung thân, mua chuốc bệnh hoạn cho thể chất, điên loạn
cho tâm trí. Chính vì vậy, Dịch chê Khổ tiết. Bất khả trinh.
Thoán Truyện. Thoán viết.
彖 曰
.
節
亨 . 剛 柔 分 .
而 剛 得 中 . 苦 節 不
可 貞
. 其 道 窮 也 . 說 以 行 險
.
當 位 以 節
. 中 正 以 通 . 天 地 節 而
四
時 成
. 節 以 制 度 . 不 傷 財
. 不 害 民 .
Tiết hanh. Cương nhu phân. Nhi cương đắc trung. Khổ Tiết bất khả trinh. Kỳ đạo
cùng dã. Duyệt dĩ hành hiểm. Đáng vị dĩ tiết. Trung chính dĩ
thông. Thiên địa tiết nhi tứ thời thành. Tiết dĩ chế độ. Bất thương
tài. Bất hại dân.
Dịch.
Thoán
rằng:
Tiết độ hanh
thông,
Cứng mềm, đều
đặn, cương trung thêm phần.
Tiết mà cay đắng
cho thân,
Thời đâu phải
chuyện thế nhân thường lề.
Tiết mà cay
đắng, ê chề,
Rồi ra bế tắc,
khó bề tới lui.
Trong nguy, lòng
vẫn sướng vui,
Ở ăn chừng mực,
vị ngôi đàng hoàng.
Chính trung, vẹn
nhẽ cương thường,
Tiền trình rộng
mở, lối đường hanh thông.
Đất trời có
tiết, có chừng,
Bốn mùa mới được
nên công thành toàn.
Cầm cân, nẩy mực
dân gian,
Biết đường tiết
chế, sửa sang mới hào.
Của dân sẽ bớt
phí hao.
Đời dân sẽ bớt
hư hao, điêu tàn.
Thoán Truyện.
Mực
thước, tiết độ, sống theo định luật của trời đất, sẽ tạo cho mình một
đời sống thung dung, thanh thản, xong xả, thông suốt (Tiết hanh).
Tiết tức là biết biện phân rành rẽ các nấc thang giá trị tinh
thần, vật chất (Cương nhu phân), lòng sắt son, nhưng vẫn hòa
nhịp được với những định luật tự nhiên (Nhi cương đắc trung).
Nói là Cương nhu phân, vì quẻ Tiết, trên là Khảm là quẻ Dương
cương, dưới là Đoài là quẻ Âm nhu. Nói là Cương đắc trung vì
hai Hào Cửu nhị và Cửu ngũ đều là Cương đắc trung.
Không phóng dật,
biết tự kiềm chế mình, tự điều khiển mình là một chuyện, nhưng hành
hạ, dằn vặt, làm khổ mình lại là chuyện khác. Đi vào đường Khổ
Tiết, Khổ ải ấy thì làm sao mà hay được. Thế là đi vào con
đường tắc nghẽn vậy (Khổ Tiết bất khả trinh. Kỳ đạo cùng dã).
Còn như biết
sống một cuộc đời có mực thước, tiết độ, thời lúc nào cũng được ung
dung, thư thái. Gặp gian nguy, cũng vẫn vui (Duyệt dĩ hành hiểm).
Đoài là duyệt, Khảm là hiểm. Sống tiết chế, tức là biết sống hòa
hợp với mọi địa vị, mọi hoàn cảnh (Dáng vị dĩ tiết),
là đi theo đường nghĩa lý,
đường trung chính, để tạo cho mình một cuộc đời thông suốt thong thả
(Trung chính dĩ thông).
Trời đất vì có
mực thước, tiết độ, định luật hẳn hoi, cho nên mới tạo được bốn mùa
đẹp đẽ (Thiên địa tiết như tứ thời thành). Cùng một lẽ, nếu ta
cai trị dân, mà có tổ chức, có chế độ, có định tắc, thì sẽ chẳng làm
hao hụt của dân, làm thiệt hại cho dân (Tiết dĩ chế độ. Bất thương
tài. Bất hại dân). Bài học trên của Thoán đã quá rõ rệt vậy.
II. Đại Tượng
Truyện.
Tượng viết:
象
曰 .
澤 上 有 水 . 節 .
君 子 以 制 數 度 . 議 德
行 .
Trạch thượng hữu
thủy. Tiết. Quân tử dĩ chế số độ. Nghị đức hạnh.
Dịch. Tượng
rằng:
Tiết là có nước trên hồ,
Cho nên quân tử
phải cho rạch ròi.
Lập ra số độ
hẳn hoi,
Biện phân đức
hạnh, cơ ngơi tỏ tường.
Trong trời đất,
mọi sự đã được tổ chức, có độ, có số, có lượng hẳn hoi. Sách Minh
Triết viết: Nhưng Chúa đã tổ chức mọi sự bằng độ, bằng số
và bằng trọng lượng. (Livre de la Sagesse 11, 20). Người
quân tử bắt chước Trời, bắt chước thiên nhiên, cũng chế ra số độ để
cân nhắc, đoán định về vạn vật; và cũng nghị luận xem thế nào là đức
hạnh thật.
Thế nào là một
người đức hạnh? Đó là một người có:
-Tâm thần sáng
suốt, thông minh, thanh thản.
-Tâm hồn cao
đẹp, ưa chuộng những điều cao quí.
-Phẩm hạnh cao
khiết.
-Là một người
thành khẩn, hòa nhã với mọi người.
1. Xác chất có
ăn uống mới sống, tinh thần cũng vậy có ăn uống mới sống. Lương thực
của tinh thần, chính là những tư tưởng cao đẹp của Thánh hiền, mọi
nơi, mọi đời. Vậy ta nên đọc sách Thánh hiền.
2. Ngọc ngà có
chau chuốt mới trở nên đẹp đẽ được. Tâm hồn có tu luyện mới trở nên
cao quí. Tu luyện tâm thần là dùng thời gian,
hoàn cảnh, để phát triển hết tiềm năng, tiềm lực mình, để tiến tới
tinh hoa cao đại, thực hiện lý tưởng hoàn thiện đã tiềm ẩn sẵn trong
lòng mình, làm phóng phát, triển dương Đạo Thể đã có sẵn trong lòng
mình. Phật giáo gọi là Phật tính, hay Pháp thân. Lão giáo gọi đó là
Thánh thai. Thánh Justin xưa gọi đó là Logos spermatikos (Apologia
11, 13). Vậy ta cố thực hiện cái Đạo tâm, Đạo thể đó.
3. Ánh sáng
cũng như Sức lực, nếu tản mạn thì yếu, nếu tập trung lại được thì
mạnh. Tinh thần ta cũng theo một định luật đó. Tất cả những phương
pháp tham thiền, nhập định xưa nay, là cốt tập trung tinh thần mà
thôi.
4. Nhịn ăn,
nhịn tình, hành hạ xác thân, thực ra cũng có thể kích thích trí não
như những loại ma túy, nhưng cũng có thể làm con người trở nên điên
loạn như ma túy.
Dùng những
phương pháp nhân tạo ấy để đi vội vào đời sống tinh thần, đạo đức, làm
cho Tinh thần, Thần Linh sớm xuất hiện, thường không mang lại kết quả
mong muốn, mà lại gây ra cho con người những thác loạn tâm thần chẳng
hay.
Tinh
thần...Thần linh...phải có thời gian mới xuất hiện được.
Cũng như hoa trái phải có thời gian mới xuất sinh. Nơi con người,
phải tới một lứa tuổi nào, đời sống đạo hạnh mới trở nên tự nhiên
được. Hiểu như vậy, mới đỡ thân làm tội đời.
III. Hào từ &
Tiểu Tượng Truyện
1.
Hào Sơ Cửu.
初 九
.
不 出 戶 庭
. 無 咎 .
象 曰
.
不 出 戶 庭
. 知 通 塞 也 .
Sơ
Cửu.
Bất xuất hộ đình. Vô cữu.
Tượng viết:
Bất xuất hộ đình. Tri thông tắc dã.
Dịch.
Chẳng ra khỏi cửa, khỏi nhà,
Thế mà chẳng
lỗi, thế mà vẫn hay.
Tượng rằng:
Chẳng ra khỏi cửa, khỏi nhà,
Biết chiều
thông tắc, biết đà tiến lui.
Sơ Cửu.
Sinh ra đời,
phải biết thủ thân, tự trọng. Khi thấy thời cơ không thuận tiện, thời
chẳng xuất đầu lộ diện mà chi. (Hộ là cửa nhà, Đình là sân). Thế là
biết nhẽ cùng thông vậy (Bất xuất hộ đình. Tri thông tắc dã).
2.
Hào Cửu nhị.
九 二
.
不 出 門 庭
. 凶 .
象 曰
.
不 出 門 庭 凶
. 失 時 極 也 .
Cửu
nhị.
Bất xuất môn đình. Hung.
Tượng viết:
Bất xuất môn đình hung. Thất thời cực dã.
Dịch.
Chẳng ra
khỏi cổng, khỏi nhà,
Ẩn khi phải
hiện, thế là chẳng hay.
Tượng
rằng:
Chẳng ra khỏi cổng, chẳng hay,
Lỗi thời quá
mức, thế này còn chi.
Cửu nhị.
Những khi
đáng giúp nước, giúp đời mà mình lại ẩn cư, thời lại là xấu. Nhan Hồi
không gặp thời, mà ẩn cư, thời đã đành. Chứ như Đại Võ, hay Ích Tắc, đương được vua
Thuấn giao cho trọng trách mà đòi rút lui, thì đâu có phải. Mới hay
quân tử phải Tri thời, thức biến để hành xử cho phải.
Tượng cho rằng:
Sự qui ẩn ở đây, sở dĩ dở là vì trái thời tiết (Bất xuất môn đình
hung. Thất thời cực dã).
Ta có thể dùng
sự tích Bá Lý Hề và Kiển Thúc để minh giải cả hai Hào Sơ Cửu và Cửu
nhị trên. Tần Mục Công biết tài Bá Lý Hề rồi, bèn muốn phong làm
thượng khanh. Bá Lý Hề từ chối mà rằng: Tài tôi chẳng bằng bạn hữu
của tôi, người ấy tên là Kiển Thúc, lấn hơn tôi thập bội. Nếu Chúa
công muốn cho nước nhà thịnh trị, thì xin dùng Kiển Thúc, còn tôi thì
để phụ theo, như vậy thì nghiệp bá mới nên. Mục Công hỏi lý do, Bá Lý
Hề đáp: Kiển Thúc là người hiền... Lúc trước tôi trôi nổi qua Tề, ý
muốn ra phò Công Tôn Vô Tri, Kiển Thúc cản tôi rằng chẳng nên. Tôi
nghe lời, nên mới khỏi hoạ với Vô Tri. Kế tôi sang qua Châu, cũng
muốn ra phò Vương Tử Thoát, Kiển Thúc cũng cản tôi rằng không nên,
tôi cũng nghe theo lời, nên mới khỏi cái hoạ với Tử Thoát. Sau tôi
trở về nước Ngu, muốn ra phò Ngu Công, Kiển Thúc cũng cản tôi rằng
chẳng nên. Lúc ấy, tôi bị cùng khốn quá đỗi, nên vì tham tước lộc mà
cãi lời người, ở lại phò đỡ Ngu Công, nên sau bị nước Tấn bắt. Đã hai
phen, tôi nghe theo lời người, đều được khỏi hoạ; mới cãi có một phen,
mà thân bị hại. Vậy thì người ấy có trí hơn tôi xa lắm, nay về ẩn
nơi làng Minh Lộc bên nước Tống. Chúa Công hãy mời về cho sớm mà
dùng.
Tần Mục Công
liền cho người đi mời Kiển Thúc về, đều phong cho Kiển Thúc và Bá Lý
Hề làm Thừa tướng.
Quả nhiên, Kiển
Thúc và Bá Lý Hề giúp Tần Mục Công lập nên nghiêp bá (Võ Minh Trí
dịch, Đông Châu Liệt quốc, trang 342- 352). Ta thấy Bá Lý Hề, lúc
không nên xuất chính, mà xuất chính, nên bị tai hoạ. Còn Kiển Thúc,
lúc không nên xuất chính thì qui ẩn, lúc nên xuất chính thì ra làm
Thừa tướng, giúp Tần Mục Công lập được nghiệp bá. Như vậy, chẳng là
Tri thời thức biến hay sao? Nếu khi Tần Mục Công
mời, mà Kiển Thúc cứ khăng khăng đòi ẩn cư, thì thất thời biết
là bao.
3.
Hào Lục tam.
六 三
.
不 節 若
. 則 嗟 若 . 無 咎
.
象 曰
.
不 節 之 嗟
. 又 誰 咎 也 .
Lục
tam.
Bất Tiết nhược. Tắc ta nhược. Vô cữu.
Tượng viết:
Bất Tiết chi ta. Hựu thùy cữu dã.
Dịch.
Sống không có mực, có chừng,
Rồi ra than
thở, hỏi rằng lỗi ai.
Tượng rằng:
Buông tung, đến phải thở than,
Mình làm, mình
chịu phàn nàn làm chi.
Lục tam Âm nhu
bất trung, bất chính, cưỡi lên trên hai Hào Dương, sắp lâm vào Khảm
hiểm, mà lại không biết tiết chế, điều khiển mình (Bất Tiết nhược),
thì tránh sao mà khỏi phàn nàn (Tắc ta nhược). Suy rộng
ra, nếu con người sống buông tung, bỏ vãi, phóng túng dục tình, rồi ra
rước lấy bệnh tật, hoạ tai, thì làm sao tránh khỏi phàn nàn được. Mình làm mình chịu, hỏi còn trách ai (Vô Cữu).
Không tiết chế,
điều khiển được mình, để rồi phải phàn nàn, thời còn đổ lỗi cho ai?
(Bất Tiết chi ta. Hựu thùy cữu dã).
4.
Hào Lục tứ.
六 四
. 安 節
. 亨 .
象 曰
. 安 節 之 亨
. 承 上 道 也 .
Lục
tứ.
An Tiết. Hanh.
Tượng viết:
An
Tiết chi hanh Thừa thượng đạo dã.
Dịch.
Ung dung,
chừng mực, thời hay,
Tượng
rằng:
Ung dung, chừng mực thời hay,
Với trên theo
được đường ngay, nẻo lành.
Lục tứ. Tiết chế được mình một cách tự nhiên, như vậy mới thung dung, xong
xả. Theo được định luật thiên nhiên một cách an nhiên, tự tại, thời
tốt đẹp biết mấy mươi. Cái hay của Lục tứ ở đây, chính là theo được con đường trung chính mà Cửu ngũ đã vạch ra (Thừa thượng đạo dã).
5.
Hào Cửu ngũ.
九 五
.
甘 節
. 吉 . 往 有 尚 .
象 曰
.
甘 節 之 吉
. 居 位 中 也 .
Cửu ngũ.
Cam Tiết. Cát. Vãng hữu thượng.
Tượng viết:
Cam Tiết chi cát. Cư vị trung dã.
Dịch.
Tiết mà
thanh thản, mới hay
Làm gì cũng
được mắn may, an lành.
Tượng rằng:
Tiết mà thanh thản mới hay,
Vị ngôi xứng
đáng, xứng tày ấm êm.
Ở ngôi Cửu ngũ,
mà tạo cho mình được một đời sống hạnh phúc, khuôn theo những định
luật đất trời, thì hay biết bao nhiêu (Cam Tiết. Cát). Nếu
đem thực thi, áp dụng cho người nữa, thì thực đáng khen (Vãng hữu
thượng dã).
Sống hay, sống
giỏi, sống thuận theo những điều kiện thiên nhiên, lý tưởng nhất, cho
nên tốt lành (Cam Tiết chi cát. Cư vị trung dã).
6.
Hào Thượng Lục.
上 六
.
苦 節
. 貞 凶 . 悔 亡 .
象 曰
.
苦 節 貞 凶
. 其 道 窮 也 .
Thượng Lục.
Khổ Tiết. Trinh hung. Hối vong.
Tượng viết:
Khổ Tiết trinh hung. Kỳ đạo cùng dã.
Dịch.
Tiết mà
Khổ Tiết ê chề,
Khư khư Khổ
Tiết, nhiều bề hung tai.
Biết điều hối lỗi, sửa sai.
Rồi ra may mắn,
thoát bài họa hung.
Tượng rằng:
Tiết mà khổ sở, ê chề
Khư khư Khổ
Tiết, nhiều bề họa hung.
Thế là gặp bước
đường cùng.
Thượng Lục.
Đi
vào con đường khổ hạnh, gò bó mình vào trong những khuôn khổ chật hẹp,
kỷ luật khắt khe, lại còn kéo dài đời sống mình trong tình trạng ấy,
thì thật là xấu (Khổ Tiết. Trinh hung). Tại sao mình lại tự
đầy đoạ mình như vậy, trong khi cánh hoa còn biết đón hơi sương, con
chim còn biết hót, biết ca, còn biết tung bay thoải mái (Hối vong).
Làm khổ mình, mà
tưởng làm theo ý Trời, tưởng thoát tục, thành Tiên, thì thực đã đi vào
con đường cùng vậy. (Khổ Tiết trinh hung. Kỳ đạo cùng dã).
ÁP
DỤNG QUẺ TIẾT VÀO THỜI ĐẠI
Như Dịch kinh đã
dạy ta: Hồ dù to mấy cũng chỉ chứa được một số nước nhất định. Nhiều
quá sẽ tràn ra bên ngoài. Con người chúng ta cũng vậy. Con người
sinh ra đời, phải sống theo nghĩa lý, sống theo định luật trời đất,
không được làm gì thái quá, như vậy mới được sung sướng.
Xưa
Đức Phật mới đi tu, cũng không biết phải tiết độ ra sao, nên đã đi vào
con đường Khổ Tiết, nhịn đói, nhịn khát, ngày ăn vài hột
cơm, nên đã suy nhược gần chết. May mà Ngài được thôn nữ dâng cho
bình sữa. Ngài uống vào mới dần dần tỉnh lại. Ngài suy ra con đường
khổ tiết là con đường cực đoan, không phải là Trung đạo, nên lập tức
thay đổi cách sống, không theo con đường này nữa.
Nhiều dòng tu
Công Giáo xưa, cũng chỉ lo ăn chay, đền tội, coi xác thân như là kẻ
thù địch, nên đã đánh tội bằng cách đánh mình mỗi tuần 40, 50 roi đòn,
lại mặc áo nhặm, hãm mình, ăn chay, nằm lạnh. Kết quả, là nhiều
người đã bị lao, bị bệnh. Như vậy, có hay đâu.
Đạo
Lão, trái lại dạy phải Tính Mệnh Song Tu, nghĩa là phải
có một tâm hồn (Tính), và một xác thân khang kiện (Mệnh). Như vậy,
mới là đúng cách tu luyện.
Người đời trái
lại, nhiều khi rượu chè bí tỉ, hút sách, điếm đàng, chơi bời
trác táng. Thật đáng thương thay!
Nhưng hễ ta làm
gì quá trớn, thì Trời sẽ cảnh cáo ta ngay: như khi quá chén, thì Trời
cho nôn mửa, nhức đầu. Nếu ta nghe theo mà hồi đầu, thì sẽ không
sao. Còn cứ bất chấp, thói nào, tật nấy, thì sẽ cho bệnh
hoạn. Như rượu chè quá độ thì sẽ cho bị cứng gan, sơ gan. Hút thuốc quá nhiều, sẽ cho bị ung thư phổi vv... Tức là, nếu
không sớm rút lui, sẽ cho bị nhiều bệnh bất trị.
Quẻ
Tiết dạy ta tiết độ, nhưng không dạy ta Khổ Tiết, mà chỉ dạy ta
An Tiết, Cam Tiết, nghĩa là phải sống cho vui, cho đẹp. Thật
là hết sức đẹp đẽ. Nếu ta biết áp dụng cho đúng quẻ Tiết vào cuộc đời
ta, thì ta sẽ được an vui, thoải mái, và sẽ thấy thật sự Tu là
cõi phúc.
Thật ra, chúng
ta là những cân Tiểu Ly, hết sức bén nhậy,
dùng để cân
lường những gì đẹp đẽ, những gì vi tế của Trời Đất. Dùng sai, dùng
bậy, là lỗi tại ta, không còn trách cứ ai được.
»
Dịch Kinh Đại Toàn | Quẻ
31 32
33 34
35 36
37 38
39
40 41
42 43
44
45
46
47
48 49
50 51
52
53 54
55 56
57
58 59
60 61
62
63 64
|